Việc áp dụng quy định của pháp luật liên quan đến đăng ký người phụ thuộc giảm trừ gia cảnh
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

Việc áp dụng quy định của pháp luật liên quan đến đăng ký người phụ thuộc giảm trừ gia cảnh

Thuật ngữ “giảm trừ gia cảnh” xuất hiện chính thức lần đầu tiên khi Luật thuế thu nhập cá nhân (Luật thuế TNCN) năm 2007 có hiệu lực từ ngày 21 tháng 11 năm 2007. Giảm trừ gia cảnh là một chính sách mang lại nhiều ý nghĩa tích cực cho người lao động. Về mặt xã hội và đạo đức, việc giảm trừ gia cảnh trong trường hợp có người sống phụ thuộc nhằm tạo điều kiện cho người chịu thuế thực hiện các nghĩa vụ vật chất mang tính đạo đức đối với người thân thuộc, qua đó góp phần củng cố tình đoàn kết, tương trợ giữa các thành viên trong cùng một gia đình. Trong điều kiện gia đình là một thiết chế xã hội được trân trọng, gìn giữ và bảo vệ một cách đặc biệt ưu tiên tại các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam, giảm trừ gia cảnh trong Luật thuế TNCN trở thành một trong những biện pháp quan trọng để nhà nước thực hiện các mục tiêu xã hội của mình. Về mặt kinh tế, giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân, trong chừng mực nào đó, được coi là việc loại khỏi thu nhập tính thuế giá trị sức lao động của người chịu thuế. Điều này cần thiết để loại bỏ nguy cơ đánh thuế vào sinh lực của con người, biến thuế TNCN thành một thứ thuế thân. Giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân thực sự là biện pháp góp phần tái tạo sức lao động của người chịu thuế và tạo điều kiện để người lao động có thể tiếp tục lao động với năng suất lao động nếu không cao hơn, thì cũng không thấp hơn mức trước đó.
Từ đó cho đến nay, Quốc hội, Chính phủ cũng như Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản có liên quan đến giảm trừ gia cảnh và người phụ thuộc, trong đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2012, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, Thông tư số 111/2013/TT-BTC, Thông tư số 92/2015/TT-BTC. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, trong quá trình áp dụng và đăng ký cho người lao động giảm trừ gia cảnh trên thực tế, các quy định trên vẫn tồn tại một số hạn chế, bất cập về người phụ thuộc giảm trừ gia cảnh, về việc chứng minh quan hệ và nghĩa vụ nuôi dưỡng của người phụ thuộc và người nộp thuế.
1. Quy định của pháp luật về người phụ thuộc và giảm trừ gia cảnh
- Về người phụ thuộc giảm trừ gia cảnh:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2012:
Đối tượng và căn cứ xác định người phụ thuộc mà người nộp thuế có nghĩa vụ nuôi dưỡng quy định tại Khoản 1 Điều này như sau:
a) Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) dưới 18 tuổi;
b) Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật không có khả năng lao động;
c) Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông mà không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức thu nhập quy định tại Khoản 4 Điều này;
d) Người ngoài độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị khuyết tật không có khả năng lao động mà không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt quá mức thu nhập quy định tại Khoản 4 Điều này, bao gồm:
- Vợ hoặc chồng của người nộp thuế;
- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ nuôi hợp pháp, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng) của người nộp thuế;
- Cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng”
          Như vậy, theo các quy định trên thì các đối tượng được coi là người phụ thuộc bao gồm: Con, vợ/chồng, cha mẹ, cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.
          Để giải thích cho các quy định trên, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 08 năm 2013. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 9 Thông tư này thì người phụ thuộc bao gồm:
  1. Con: con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú, con riêng của vợ, con riêng của chồng
  2. Vợ hoặc chồng của người nộp thuế
  3. Cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng); cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp của người nộp thuế
  4. Các cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng, bao gồm:
    • Anh ruột, chị ruột, em ruột của người nộp thuế.
    • Ông nội, bà nội; ông ngoại, bà ngoại; cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột của người nộp thuế.
    • Cháu ruột của người nộp thuế bao gồm: con của anh ruột, chị ruột, em ruột.
    • Người phải trực tiếp nuôi dưỡng khác theo quy định của pháp luật.
- Về điều kiện giảm trừ gia cảnh:
Theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn, để đăng ký giảm trừ gia cảnh, người phụ thuộc phải thỏa mãn 02 tiêu chí:
Thứ nhất, về tuổi lao động:
  • Nếu người phụ thuộc nằm trong độ tuổi lao động thì người đó phải bị khuyết tật, không có khả năng lao độngkhông có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.
  • Nếu người phụ thuộc nằm ngoài độ tuổi lao động thì người đó phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.
Thứ hai, về hồ sơ chứng minh người phụ thuộc.
Trong khi đối với người phụ thuộc là con, bố mẹ, vợ/chồng, hồ sơ chứng minh rất rõ ràng và chi tiết thì đối với những người phụ thuộc khác (Các cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng), hồ sơ chứng minh, theo quan điểm của cá nhân, thì không đảm bảo được các căn cứ cần thiết, cụ thể như sau:
Theo quy định tại tiết g.4 điểm g khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC thì hồ sơ chứng minh đối với các Các cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng bao gồm:
g.4.1) Bản chụp Chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh.
g.4.2) Các giấy tờ hợp pháp để xác định trách nhiệm nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người phụ thuộc trong độ tuổi lao động thì ngoài các giấy tờ nêu trên, hồ sơ chứng minh cần có thêm giấy tờ chứng minh không có khả năng lao động như bản chụp Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật đối với người khuyết tật không có khả năng lao động, bản chụp hồ sơ bệnh án đối với người mắc bệnh không có khả năng lao động (như bệnh AIDS, ung thư, suy thận mãn,..).
Các giấy tờ hợp pháp tại tiết g.4.2, điểm g, khoản 1, Điều này là bất kỳ giấy tờ pháp lý nào xác định được mối quan hệ của người nộp thuế với người phụ thuộc như:
- Bản chụp giấy tờ xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật (nếu có).
- Bản chụp sổ hộ khẩu (nếu có cùng sổ hộ khẩu).
- Bản chụp đăng ký tạm trú của người phụ thuộc (nếu không cùng sổ hộ khẩu).
- Bản tự khai của người nộp thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nộp thuế cư trú về việc người phụ thuộc đang sống cùng.
- Bản tự khai của người nộp thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người phụ thuộc đang cư trú về việc người phụ thuộc hiện đang cư trú tại địa phương và không có ai nuôi dưỡng (trường hợp không sống cùng).
2. Thực tiễn áp dụng quy định về giảm trừ gia cảnh
Trong quá trình áp dụng quy định về giảm trừ gia cảnh khi nộp thuế thu nhập cá nhân, vẫn còn phát sinh một số hạn chế, bất cập như:
- Việc chứng minh người phụ thuộc “Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồngthuộc về người nộp thuế mà không yêu cầu có xác nhận của bất kỳ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào. Người nộp thuế chỉ cần làm cam kết và nộp cho doanh nghiệp là đủ chứng minh. Việc chứng minh này mang nhiều rủi ro. Người nộp thuế, vì lợi ích trước mắt của mình, sẵn sàng cam kết nội dung như trên dù có thể biết người phụ thuộc vẫn có thu nhập từ các nguồn khác nhau.
- Về hồ sơ chứng minh người phụ thuộc, có thể nhận thấy, các giấy tờ nêu trên không thể chứng minh đầy đủ quan hệ phát sinh trách nhiệm nuôi dưỡng của người nộp thuế và người phụ thuộc.
Lấy một ví dụ cụ thể, anh Nguyễn Văn A đăng ký em họ Trần Thị C là người phụ thuộc. Nếu không có giấy tờ xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hoặc không cùng hộ khẩu thì Trần Thị C chỉ cần chuẩn bị Chứng minh nhân dân/Giấy khai sinh và Bản chụp đăng ký tạm trú hoặc Bản tự khai theo mẫu là đầy đủ hồ sơ theo quy định. Tuy nhiên, bản thân Bản đăng ký tạm trú hoặc Bản tự khai thì không thể xác định đầy đủ quan hệ nuôi dưỡng giữa người nộp thuế và người phụ thuộc.
Điều này gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp cũng như chính bản thân người nộp thuế trong quá trình áp dụng các quy định về thu nhập cá nhân. Về phía doanh nghiệp, do tất cả hồ sơ chứng minh người phụ thuộc đều kê khai qua mạng (không nộp bản gốc, bản gốc lưu tại doanh nghiệp) nên doanh nghiệp chịu nhiều rủi ro khi đăng ký cho người lao động. Về phía người lao động, người lao động phải chuẩn bị nhiều hồ sơ có liên quan khác theo yêu cầu của doanh nghiệp. Mặt khác, kể cả khi doanh nghiệp đã đăng ký thành công cho người lao động nhưng vẫn có trường hợp người phụ thuộc không được chấp nhận sau khi cơ quan thuế thanh tra/ kiểm tra doanh nghiệp. Các trường hợp này sẽ bị truy thu thuế, thậm chí là chịu các khoản phạt từ cơ quan thuế. Qua tìm hiểu, các cơ quan thuế ở các tỉnh khác nhau cũng có các quan điểm khác nhau khi giải thích cho doanh nghiệp/người lao động thông qua các công văn chính thức.
Mặt khác, cũng nằm ở trong hồ sơ chứng minh người phụ thuộc, Bản tự khai theo mẫu (mẫu 09/XN-NPT-TNCN Ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính) cần có xác nhận của UBND cấp xã nơi người phụ thuộc đang thường trú. Trong phần xác nhận có nội dung xác nhận người phụ thuộc không nơi nương tựa, người nộp thuế đang trực tiếp nuôi dưỡng. Thực tế không có nhiều UBND cấp xã xác nhận nội dung này, đặc biệt là các phường tại các thành phố lớn, thành phố trực thuộc trung ương. UBND phường cho rằng, họ không thể biết được người phụ thuộc có đúng là không nơi nương tựa và được người nộp thuế nuôi dưỡng hay không.
Qua trao đổi với cơ quan thuế, mặc dù Luật và các văn bản hướng dẫn quy định như vậy nhưng trên thực tế, người phụ thuộc là Các cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng, muốn được đăng ký thì phải không còn bố mẹ/con cái hoặc những người này mất khả năng lao động. Còn đối với các trường hợp khác, cơ quan thuế sẽ loại hồ sơ.
Tóm lại: Trong thực tế hiện nay, khoản giảm trừ gia cảnh có ý nghĩa rất lớn đối với người lao động. Việc quy định của pháp luật về giảm trừ gia cảnh phải thật phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, kinh tế của người dân, doanh nghiệp, ý thức chấp hành của người dân. Hy vọng trong thời gian tới, các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà làm luật sẽ có những giải pháp, chính sách sao cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, để đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của doanh nghiệp, người lao động cũng như tránh làm thất thoát ngân sách nhà nước.
(Bài viết mang quan điểm cá nhân).
Trần Hồng Hạnh