Một số vấn đề liên quan đến “Vận động hành lang”
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

Một số vấn đề liên quan đến “Vận động hành lang”

I. Tổng quan
Vận động hành lang xuất hiện đầu tiên ở nước Anh, nó gắn liền với sự ra đời của nền dân chủ đại diện. Vận động hành lang được lấy theo tên địa điểm mà hoạt động này diễn ra đầu tiên trong lịch sử, đó là hành lang của Nghị viện Anh, nơi mà trong thời gian nghỉ giải lao, các nghị sỹ thường trao đổi với đồng nghiệp, hoặc các cử tri tập trung để trình bày ý kiến, kiến nghị với các đại diện của mình. Tại các hành lang lớn này đã diễn ra các cuộc vận động, thuyết phục giữa các cử tri và các nghị sỹ nhằm mục đích gây ảnh hưởng đến những vấn đề sẽ được tranh luận và thông qua ở Nghị viện.
Chủ thể thực hiện vận động hành lang thường là các nhóm lợi ích và các chuyên gia vận động hành lang. Nhóm lợi ích là những nhóm công dân tập hợp lại với nhau dựa trên cơ sở lợi ích chung về kinh tế, sắc tộc… Các chuyên gia vận động hành lang thường là các nghị sĩ, cựu nghị sĩ hoặc các quan chức cấp cao của chính quyền, những luật sư giàu kinh nghiệm… Chính vì vậy, đây là những nhân vật có khả năng tiếp cận với các quan chức cấp cao trong chính phủ, duy trì được các mối quan hệ chính trị và có khả năng gây ảnh hưởng bằng uy tín của mình.
Hoạt động vận động hành lang được thực hiện thông qua nhiều hoạt động đa dạng và phức tạp, bao gồm cả những biện pháp vận động trực tiếp và gián tiếp, như: gặp gỡ trực tiếp các nhân vật cần tác động; liên lạc thông qua emails, fax, điện thoại; chiêu đãi, tiệc tùng; tổ chức các buổi hội thảo tại nước ngoài; xuất bản các bản tin, tài liệu; tác động thông qua các kênh thông tin đại chúng, tạo sức ép từ dư luận, tổ chức các cuộc biểu tình, sử dụng uy tín của những người đứng đầu tổ chức, tổ chức các chiến dịch công chúng (mít-tinh, viết thư kêu gọi, ký tên tập thể,…); soạn thảo những dự luật có khả năng được đệ trình; tổ chức các buổi điều trần, trả lời chất vấn chính thức và không chính thức,..
II. Quy định về “Vận động hành lang” của một số nước
1. Tại Mỹ
Vận động hành lang ở Mỹ vốn là một hoạt động hợp pháp, công khai và tồn tại từ lâu đời với sự hoạt động của rất nhiều các nhóm lợi ích khác nhau. Có khoảng 3.700 nhóm lợi ích đang hoạt động trong hệ thống chính trị Mỹ, và có tới gần 60% người dân Mỹ là thành viên của các nhóm lợi ích này. Nước Mỹ đang chứng kiến một sự gia tăng đáng kể của các nhóm, các nhà vận động hành lang, cả về mặt số lượng lẫn mức độ tác động. Trong hầu hết các lĩnh vực, hệ thống hoạch định chính sách của Mỹ đang chịu tác động mạnh mẽ từ nhiều kênh, nhiều hình thức của các nhóm lợi ích/vận động hành lang. Theo một báo cáo của Public Citizen, tính từ năm 1998 đến nay, có tới 43% trong tổng số 198 cựu thành viên Quốc hội Mỹ đã rời khỏi chính trường để hành nghề vận động hành lang.
Có thể nói, Mỹ là nơi hoạt động vận động hành lang diễn ra sôi nổi nhất thế giới và vận động hành lang cũng được coi là một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ (chủ yếu trong lĩnh vực chính trị, lập pháp). Xuất hiện từ khi nước Mỹ mới thành lập, vận động hành lang chính là một “thói quen chính trị trong việc hình thành các chính sách của Mỹ và thói quen này đã được luật pháp Mỹ quy định và bảo hộ. Ở Mỹ, vận động hành lang được hiểu là sự vận động các nghị sĩ, dân biểu trong Quốc hội Mỹ ở cả Thượng viện và Hạ viện để họ đưa ra hay ủng hộ các đạo luật, các nghị quyết, các quyết định mang tính chính sách có lợi cho các nhóm lợi ích khác nhau. Người làm nhiệm vụ này được gọi là nhà vận động hành lang. Người đó được trả lương để tác động tới bộ máy lập pháp hoặc dư luận.
Mỹ đã có nhiều văn bản pháp luật thừa nhận và quy định các hoạt động vận động hành lang. Đạo luật quan trọng nhất áp dụng cho hoạt động vận động hành lang ở Mỹ là Đạo luật vận động hành lang được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1946. Ngày 19/12/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ký ban hành Đạo luật về Công khai hóa hoạt động vận động hành lang điều chỉnh các mối quan hệ trong và ngoài nước ở Mỹ và quy định: “Bắt buộc những người hoạt động vận động hành lang phải đăng ký, phải công khai hóa các khách hàng, các cuộc tiếp xúc, công khai hóa các vấn đề vận động hành lang và số tiền công được chi trả. Như vậy, trên thực tế, vận động hành lang ở Mỹ đã và đang tồn tại như một loại hình kinh doanh mang tính chính trị – xã hội, có tác động mạnh mẽ vào quá trình hình thành chính sách đối nội, đối ngoại của Mỹ.
Tại Mỹ, quá trình xây dựng các chính sách và pháp luật chịu ảnh hưởng khá mạnh từ hoạt động vận động hành lang mà những người thực hiện hoạt động này là các nhóm lợi ích. Do đó, cũng có thể nói việc xây dựng các chính sách và pháp luật chịu ảnh hưởng bởi sự tranh giành hay thỏa hiệp giữa các nhóm lợi ích. Các nhóm lợi ích là tổ chức của những người có cùng quan tâm, có cùng quan điểm với từng vấn đề xã hội khác nhau; cố gắng tác động đến việc xây dựng chính sách của Chính phủ và đặc biệt là muốn chuyển yêu cầu của họ thành các chính sách để phục vụ lợi ích của nhóm dân cư có cùng mối quan tâm mà họ là người đại diện. Ngoài ra, “các nhóm lợi ích vận động chính quyền cho những lợi ích của họ chính là biểu hiện của nền dân chủ tự do”. Lời khẳng định đó của Tổng thống Jefferson đã chứng tỏ các nhóm lợi ích có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Mỹ.
Các nhóm lợi ích ở Mỹ ra đời rất sớm và ngày càng phát triển nhanh về số lượng, tổ chức, quy mô và kỹ năng hoạt động. “Ngày nay, có hơn 22.000 nhóm lợi ích có tổ chức ở Mỹ, và hàng chục ngàn người đăng ký chính thức làm nghề vận động hành lang tại Washington”. Có khoảng 60% dân Mỹ tham gia vào các nhóm lợi ích. Như vậy, sự tham gia của công dân vào chính trị nói chung và quá trình ra quyết định nói riêng là một trong những đặc trưng của hệ thống dân chủ truyền thống Mỹ.
Có rất nhiều nhóm lợi ích khác nhau: (i) Nhóm lợi ích về kinh doanh như các tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia; (ii) Nhóm hiệp hội nghề nghiệp; (iii) Nhóm liên Chính phủ; (iv) Nhóm lợi ích công; (v) Nhóm công đoàn. Các nhóm lợi ích của Mỹ hết sức đa dạng và về thực chất là các phe phái chính trị tập hợp lại với nhau vì một lợi ích chung nào đó. Họ đấu tranh, vận động nhằm vào các bộ phận khác nhau của Chính phủ để bảo đảm tối đa lợi ích cho nhóm mình. Nguồn gốc ra đời của các nhóm lợi ích nằm ở chính mục tiêu mà họ theo đuổi, đó là: thứ nhất, các nhóm lợi ích ra đời nhằm bảo vệ những lợi ích của họ về kinh tế; thứ hai, các nhóm lợi ích cũng là sản phẩm của các phong trào xã hội, phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử nước Mỹ. Chẳng hạn các phong trào đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ nô lệ, đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc…; thứ ba, các nhóm lợi ích ra đời nhằm tìm kiếm lợi ích từ Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực chính trị, tinh thần. Các nhóm này có tính chất phi tập trung hóa quyền lực chính trị với các bang và các địa phương, tức được hình thành ngẫu nhiên và dựa trên nhu cầu lợi ích xã hội. Các nhóm lợi ích này hoạt động rất năng động không chỉ dồn sức cho hoạt động chính trị mà còn cho cả những vấn đề mà họ quan tâm và thời gian tồn tại của những nhóm này là rất ngắn. Chúng xuất hiện khi có các vấn đề xuất hiện, rồi lại biến mất khi vấn đề được giải quyết.
Sức mạnh của các nhóm lợi ích nằm ở lá phiếu ủng hộ cho các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ khác nhau của Chính phủ và những đóng góp tài chính của họ cho các chiến dịch vận động tranh cử thông qua các Uỷ ban hành động chính trị. Hiện nay, các nhóm lợi ích có nhiều ảnh hưởng ở Quốc hội là: Tổ chức nông nghiệp Liên bang Mỹ; Tổ chức công đoàn AFL – CIO; Liên đoàn người tiêu dùng Mỹ; … Các nhóm lợi ích này thường ảnh hưởng tới các nghị sỹ của cả hai đảng (đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ), do đó, trong không ít trường hợp, lá phiếu của các nghị sỹ thể hiện tác động của các nhóm lợi ích hay của các khu vực hơn là của đảng phái. Các nhóm lợi ích này thực hiện chức năng tiếp điểm, thể hiện quan điểm và đại diện cho lợi ích của các nhóm riêng biệt trong xã hội. Ngoài ra, còn cung cấp nhiều thông tin và kiến thức chuyên biệt về việc bố trí sắp xếp những thiết chế chính thức.
Nước Mỹ đứng trước sự trái ngược: vừa phải thừa nhận tính đa dạng về lợi ích; vừa phải ngăn ngừa các nhóm lợi ích này thông qua hoạt động vận động hành lang có thể gây lũng đoạn chính sách. Một mặt, họ tạo ra hàng loạt luật và án lệ mới bảo vệ hệ thống chính trị và các đảng phái khỏi ảnh hưởng vận động hành lang về tài chính (tiền chi cho vận động hành lang tại Mỹ vào năm 2004 lên đến 2,1 tỷ USD). Mặt khác, họ thừa nhận và luật hóa các nhóm lợi ích, các công ty vận động hành lang như đã nói ở trên. Chính sự tự do trong việc vận động hành lang chính sách đã tạo ra rất nhiều nhóm lợi ích cạnh tranh và đối trọng lẫn nhau và đã có lúc cả hệ thống chính quyền Mỹ bị chao đảo vì các nhóm vận động hành lang. Một cơn sốc chính trị nổ ra trong Quốc hội Mỹ khi Abramoff, nhà vận động hành lang có thế lực nhất của Mỹ bị kết tội trong một loạt scandal chính trị cao cấp. Tại tòa án, Abramoff đã nhận tội biển thủ, gian dối tài chính và mua chuộc chính khách. Tạp chí Time gọi ông ta là “người đã mua cả Washington”. Trung tâm điều tra độc lập Center for Responsive Politics cho biết đã điểm danh được hơn 300 nghị sĩ của cả hai đảng từng hưởng ân huệ từ Abramoff từ năm 1999. Sau vụ khủng hoảng này, hàng loạt các kiến nghị cải tổ luật về các nhóm lợi ích được đưa ra. Luật Vận động hành lang sửa đổi ngày 18/1/2006 quy định cấm các hình thức quà cáp “bồi dưỡng” cho các nghị sĩ có giá trị từ 20 USD trở lên, tặng vé máy bay, chiêu đãi các kỳ nghỉ, các chuyến đi thực tế của các nghị sĩ theo lời mời của các tổ chức, cá nhân, mời cơm thân mật…
Nhưng bên cạnh đó, lịch sử chính trị Mỹ cũng có rất nhiều ví dụ về những ảnh hưởng tích cực của các nhóm lợi ích với chính sách: Vào cuối thập kỉ 90, dưới sự vận động hành lang của các tập đoàn dược phẩm hùng mạnh, việc nhập khẩu thuốc theo đơn vào Mỹ rất ngặt nghèo. Không chịu nổi giá thuốc leo thang, các cụ già vùng Đông Bắc Mỹ, dưới sự tổ chức của các hội hưu trí, đã đi xe buýt sang Canada mua thuốc (trái phép). Phong trào bất tuân dân sự này ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính quyền. Dù cuộc chiến pháp lý giữa các tập đoàn thuốc và người tiêu dùng còn tiếp diễn, nhưng hàng loạt tiểu bang đã mặc cả với các hãng thuốc để giảm giá cho người nghèo hay nới lỏng quy định nhập khẩu thuốc.
Về mặt lý thuyết và nguyên tắc, vận động hành lang là nhằm làm cho hệ thống làm luật và thi hành luật đáp ứng lợi ích của người tiến hành vận động hành lang. Các hoạt động vận động hành lang được tiến hành theo quy trình: các nhóm vận động hành lang Quốc hội phải đăng ký vào cơ sở dữ liệu trung ương và sau đó những người làm vận động hành lang tham gia một phiên họp điều trần của các nhà lập pháp để nghe báo cáo, những chất vấn chính thức và không chính thức với các quan chức nhà nước được bầu hay bổ nhiệm. Sau đó, họ gửi những kết quả nghiên cứu hay thông tin kỹ thuật tới các quan chức có liên quan, tìm cách quảng bá một chủ đề, soạn thảo những dự luật có khả năng được đệ trình, tổ chức chiến dịch viết thư gửi các nhà làm luật… Các nghị sĩ Quốc hội sau khi tiếp xúc với những người làm vận động hành lang có thể đệ trình các dự luật theo yêu cầu của họ. Và để hoạt động vận động hành lang thu được hiệu quả, một nhà vận động phải hiểu rõ hệ thống chính trị Mỹ, phải có quan hệ tốt với các nhà làm luật và các nhà hoạch định chính sách của Chính phủ, những nhà tư vấn trong Quốc hội. Chính vì vậy mà có rất nhiều nhà vận động hành lang giỏi lại chính là các cựu quan chức của Chính phủ, những nhà tư vấn trong Quốc hội. Không ai khác, họ là người có nhiều kinh nghiệm và xây dựng được nhiều mối quan hệ sau nhiều năm làm việc và công tác. Ví dụ điển hình là cựu Nghị sĩ Mỹ Bob Livingston đã trở thành một nhà vận động hành lang thành công sau khi rời khỏi chính trường. Chỉ trong vòng 6 năm, nhóm vận động hành lang do ông thành lập đã phát triển thành 1 trong 12 công ty vận động hành lang lớn nhất, với doanh thu gần 40 triệu USD tính tới cuối năm 2004. Những năm gần đây, không chỉ có những nhóm lợi ích thuê các nhà vận động hành lang để tiến hành vận động cho mình mà ngay cả Chính phủ và các công ty nước ngoài cũng tìm sự vận động theo hướng này. Những nhà vận động hành lang được coi là nhịp cầu nối giữa các nhóm lợi ích và các nhà chính trị, các nhà làm luật và hoạt động chính sách. Hoạt động của họ vừa có tính thuyết phục các nhà làm luật, vừa tạo điều kiện để họ hiểu được quan điểm của các nhóm lợi ích. Người dân Hoa Kỳ, các nhóm lợi ích cần các chuyên gia vận động hành lang để có thể nhận được sự chú ý nhiều hơn đối với các lợi ích và mong muốn của mình từ các cơ quan hành pháp, lập pháp; còn bản thân các nghị sỹ Hoa Kỳ cũng thấy các chuyên gia vận động hành lang thực sự hỗ trợ họ rất nhiều trong việc thông qua các dự luật và các quyết định quan trọng, bởi tình trạng quá tải về công việc của các nghị sỹ Hoa Kỳ trước yêu cầu cần được điều chỉnh của các quan hệ phát sinh trong xã hội hiện nay. Chính các chuyên gia vận động hành lang là người hướng các nghị sỹ Hoa Kỳ đến gần hơn với những bức xúc của xã hội, người dân và những chủ thể có quyền lợi liên quan khác.
Nhưng mặt khác, điều không thể phủ nhận là vận động phải có năng lực tài chính để chi trả cho hoạt động điều tra, thu thập thông tin và tác động. Thực tế hiện nay, tại Mỹ, trong nền chính trị hiện đại, vận động hành lang chính là việc dùng thế lực tiền bạc để vận động và làm áp lực để Quốc hội hoặc các cơ quan nhà nước hành động theo chiều hướng phục vụ quyền lợi của các nhóm lợi ích. Ngay cả một số cơ quan Chính phủ trung ương và địa phương cũng dùng tiền bạc để vận động hành lang các nhà lập pháp. Nhưng đồng tiền khi dính với quyền lực chính trị sẽ dẫn đến nguy cơ bè đảng, cướp đi cơ hội của những nhóm yếu thế được có tiếng nói trong quá trình ra quyết định. Đây cũng là khe hở để các thế lực tài chính hùng mạnh có thể giành lợi thế trong các cuộc chạy đua vận động và bóp méo công lý. Một số người vận động hành lang đã lợi dụng cơ chế này để đóng góp tiền cho các chiến dịch chính trị và dành cho các quan chức được bầu những đặc lợi và tất nhiên toàn bộ những đóng góp này cũng luôn luôn kèm với kỳ vọng sẽ được đối xử thuận lợi trong một số vấn đề sau này. Và thực tế, có thể gọi chúng là “của đút lót tế nhị được nguỵ trang khéo léo”. Còn về hình thức hoạt động, vận động hành lang không phải lúc nào cũng ở trong phòng họp, trên các phiên họp của nghị viện hay các uỷ ban của nghị viện, mà chủ yếu ở ngoài hành lang và hết sức phong phú bên ngoài trụ sở nghị viện với các cấp độ khác nhau. Một số những chuyên viên vận động hành lang có những hành động kèm theo những quà cáp bất hợp pháp trong lúc đề đạt ý nguyện của khách hàng đến các nhà làm luật. Những món quà đó có thể là tiền bạc hay những chuyến đi nghỉ, đi chơi xa thật đắt tiền. Những người làm vận động hành lang luôn sẵn sàng để chiều theo sở thích, ý muốn của những nhân vật quyền thế trong mọi tình huống. Các chuyên gia vận động hành lang cũng bằng nhiều cách khác nhau tự tìm những con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Sam Ward, một trong những người được mệnh danh là “ông vua vận động hành lang” của Hoa Kỳ, đã triệt để áp dụng nguyên tắc: “con đường ngắn nhất để đạt được sự ủng hộ của một nghị sỹ đối với một dự luật chưa được thông qua là đi qua dạ dày của ông ta”.
Chính vì những luật lệ về vận động hành lang ở Mỹ rất thoáng nên không thể nào liệt kê hết các phương thức hoạt động của nó. Với khoản tiền thu hàng năm về tới 4 tỷ USD từ các khoản tiền ủng hộ, tài trợ của các nhà đầu tư, có thể nói ưu thế về tài chính và những vận động “ngoài lề” trong vận động hành lang đã và đang có ảnh hưởng to lớn tới chính trường Mỹ và cụ thể là tới quá trình xây dựng chính sách và pháp luật nói riêng. Điều nguy hiểm ở đây là sự nhập nhằng ranh giới giữa việc đầu tư ủng hộ cho các chiến dịch tranh cử với hối lộ; giữa nhận tiền tài trợ cho quỹ bầu cử với tham nhũng.
Ở Mỹ, những nhóm vận động hành lang mạnh nhất là những nhóm đại diện cho lợi ích kinh doanh của các tập đoàn tư bản (chiếm tới 72%): Vận động hành lang nghiệp quốc phòng, Vận động hành lang dầu khí, Vận động hành lang phục vụ nước ngoài. Chỉ có 8% đại diện cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp, khoảng 5% đại diện cho các nhóm bảo vệ dân quyền, phúc lợi xã hội, 2% đại diện cho người nghèo và 1% đại diện cho những nhóm yếu thế trong xã hội như người già, người tàn tật. Như vậy, số người hành nghề vận động hành lang đại diện cho quyền lợi của giới kinh doanh và doanh nghiệp chiếm số lượng áp đảo. Các nhóm vận động hành lang này có một sức mạnh đáng kể trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật ở Mỹ. Mặc dù các nghị sĩ phải chịu sự chỉ đạo của các nhóm đảng phái trong Hạ viện và Thượng viện khi bỏ phiếu, song họ vẫn phải dành sự quan tâm đáng kể đến ý kiến của công luận và của cử tri tại các quận hay bang của mình. Nếu một nghị sĩ nhận được yêu cầu của một số lượng đáng kể cử tri về một vấn đề nào đó, trong lúc ban lãnh đạo đảng yêu cầu vị này phải bỏ phiếu khác đi, thì tiếng nói của cử tri mới là nhân tố chi phối kết quả bỏ phiếu cuối cùng. Khi các nhóm lợi ích cùng kết thành một hiệp hội, có sự liên kết hơn, họ sẽ hình thành một tổ chức vận động hành lang có tính chất chuyên nghiệp. Với các chuyên gia chuyên vận động hành lang dựa vào mối quan hệ tương hỗ giữa các nghị sĩ, tiếng nói của họ sẽ được chú ý hơn trước Quốc hội, khiến cho Quốc hội khó có thể bỏ qua ý kiến của các liên minh trước những vấn đề chính sách lớn. Hoặc có trường hợp các nghị sĩ phe thiểu số khi cần có tiếng nói ủng hộ thì tiếng nói của liên minh là bằng chứng cho sự ủng hộ rộng rãi đối với quan điểm, chính sách đó.
Như vậy, trên thực tế, vận động hành lang ở Mỹ đã và đang là một tồn tại mang tính chính trị – pháp lý – xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc hội và Chính phủ Mỹ trong tất cả các công đoạn của quá trình xây dựng pháp luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại. Ví dụ như, do đặc thù của việc bầu cử rất tốn kém, nên hệ thống chính trị cần nhiều tiền để thực hiện các hoạt động. Vì thế, khi các công đoàn, công ty và tổ chức đóng góp tiền bạc cho các đảng và các nhà chính trị thì đồng thời họ đóng luôn vai trò quan trọng trong việc định đoạt chương trình chính trị nhà nước. Mỹ có một hệ thống chính trị và pháp luật rất phức tạp và trong đó vận động hành lang là hoạt động liên quan trực tiếp đến cả hệ thống chính trị lẫn hệ thống pháp luật, nên chính bản thân nó cũng hết sức phức tạp.
Hoạt động vận động hành lang ở Mỹ đồng thời còn là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi ích và nhân dân Mỹ đối với các cơ quan công quyền. Thêm nữa, đây là một cơ chế quan trọng thể hiện được tính dân chủ rất lớn mà qua đó các công dân Mỹ có thể phản ánh trực tiếp những ý tưởng, nguyện vọng, nhu cầu và quan điểm của mình tới các vị quan chức được bầu. Vận động hành lang không phải là một ngành quyền pháp lý mà mang đậm tính chất xã hội, nhưng về bản chất, nó là sự chia sẻ quyền lực giữa Nhà nước và xã hội. Bản chất của “vận động hành lang nhìn chung không phải là xấu …” (9), tuy nhiên, với muôn màu muôn vẻ của các kiểu vận động mà không có sự kiểm soát chặt chẽ, nó cũng không tránh khỏi việc bị lạm dụng, gây nhiều tệ nạn và tai tiếng.
Ở Mỹ, những vận động hành lang nhiều tiền và do đó nhiều thế lực nhất là những vận động hành lang đại diện cho các tập đoàn tư bản, tiêu biểu là:
Vận động hành lang nghiệp quốc phòng: Có sức mạnh vô địch, chi phối Quốc hội và nhà nước. Nó đại diện cho đông đảo các công ty và các nhà thầu cực lớn, cung cấp máy bay, tàu chiến, súng, bom và mọi thứ hàng cần thiết cho quân đội Mỹ. Trong suốt thời gian của cuộc chiến tranh lạnh, đông đảo các nghị sỹ của cả hai phe đã liên hệ mật thiết với vận động hành lang của các công ty này. Trong kỳ tổng tuyển cử 1987 – 1988, những Uỷ ban hành động chính trị của các công ty trong ngành công nghiệp quốc phòng đã ủng hộ trên 7 triệu đô la tiền cứng, tức là tiền ủng hộ trực tiếp cho các cá nhân là ứng cử viên Thượng viện và Hạ viện.
Vận động hành lang dầu khí: Sức mạnh chỉ sau vận động hành lang nghiệp quốc phòng. Sau cuộc khủng hoảng vùng Vịnh năm 1990, vận động hành lang dầu khí vận động nhà nước có chính sách bao cấp để gia tăng sản xuất dầu khí trong nước nhằm giảm thiểu sự lệ thuộc vào dầu khí nhập khẩu từ Trung Đông.
Vận động hành lang phục vụ nước ngoài: Những người làm vận động hành lang phục vụ quyền lợi của chính phủ nước ngoài phải đăng ký hoạt động với nhà nước Mỹ và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Công việc của họ trên hai phương diện: Cố vấn cho chính phủ nước ngoài về chủ trương, chính sách và xu thế của nhà nước Mỹ đối với các vấn đề liên quan đến hai nước; vận động để Quốc hội và Tổng thống Mỹ theo đường lối hợp với nguyện vọng của chính phủ nước ngoài mà người làm vận động hành lang phục vụ. Trong lịch sử và hiện tại, rất nhiều chính phủ là khách hàng của các vận động hành lang Mỹ như Trung Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ăng-gô-la, Nhật Bản, Hàn Quốc …
Như vậy, trên thực tế, vận động hành lang ở Mỹ đã và đang là một tồn tại mang tính chính trị – pháp lý – xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc hội và chính phủ Mỹ trong tất cả các công đoạn của quá trình xây dựng pháp luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại, “đồng thời cũng góp phần làm suy yếu các đảng phái chính trị”[7]. Trong mối quan hệ với Quốc hội và Chính phủ, vận động hành lang Mỹ đồng thời là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi ích và nhân dân Mỹ đối với các cơ quan công quyền. Vận động hành lang không phải là một ngành quyền pháp lý mà mang tính chất xã hội nhưng về bản chất, nó là sự chia sẻ quyền lực giữa nhà nước và xã hội. Sự thừa nhận về mặt pháp lý của vận động hành lang cũng là sự minh hoạ cụ thể về tính đại diện của Quốc hội Hoa Kỳ.
Chính vì lợi ích do vận động hành lang mang lại là cực kỳ to lớn nên hiện nay, ngoài các tập đoàn tư bản Mỹ, một số tổ chức phi chính phủ cũng đang có hoạt động vận động hành lang và đáng chú ý là một số tổ chức phản động trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng có những hoạt động mang tính vận động hành lang để tác động vào các chính sách không có lợi cho Việt Nam từ Quốc hội Mỹ. Chẳng hạn tìm cách ngăn cản quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, thông qua đạo luật về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, hay đạo luật về chống bán phá giá cá basa … Tuy nhiên, cũng có những vận động hành lang đại diện của một số công ty Mỹ đã vận động Quốc hội và Tổng thống Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Cu Ba, thúc đẩy ký hiệp định thương mại với Việt Nam …
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, các hoạt động vận động hành lang nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ mậu dịch, tranh thủ đầu tư, viện trợ ở Mỹ của một số nước đã trở thành đề tài thời sự. Các cơ quan lập pháp và hành pháp Mỹ chấp nhận hoạt động này, còn các chính phủ hay các công ty, doanh nghiệp nước ngoài thì coi đây là một hoạt động tất yếu khi quan hệ với Mỹ, muốn gặt hái lợi ích từ chính quyền Mỹ, từ thị trường và từ xã hội Mỹ.
“Ở khu vực Đông Nam Á, theo thông tin từ Bộ Tư pháp Mỹ cho biết, cho đến năm 2004, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động vận động hành lang, còn các quốc gia và vùng lãnh thổ như Cam -pu-chia, Hồng Kông, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, My-an-ma, Sing-ga-po, Thái Lan, Phi-lip-pin đều có các khoản chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu đôla cho hoạt động vận động hành lang ở Mỹ”[8]. Mục tiêu vận động hành lang của các quốc gia này là vận động để Mỹ ủng hộ trong các mối quan hệ chính trị, thương mại quốc tế, nhất là thuế quan, hàng xuất khẩu vào Mỹ được hưởng quy chế “tối huệ quốc”, để Mỹ tách vấn đề nhân quyền theo giá trị của Mỹ ra khỏi vấn đề quan hệ kinh tế, thương mại, vấn đề mua vũ khí và kỹ thuật cao của Mỹ … Bên cạnh những hoạt động vận động hành lang của chính phủ, các tập đoàn kinh tế, thương mại của các nước này cũng chi những khoản không nhỏ (có thể gấp hàng chục, hàng trăm lần chính phủ) cho các hoạt động vận động hành lang phục vụ lợi ích của chính các tập đoàn, các công ty đó ở Mỹ.
2. Tại Anh
Mặc dù không có Hiến pháp thành văn nhưng vận động hành lang không phải là vấn đề mới ở Anh. Thậm chí, Vương quốc Anh còn được coi là xuất phát điểm của vận động hành lang với vai trò của hành lang trung tâm của Điện Wesminster. Quyền kiến nghị của người dân đối với chính quyền chính thức được ghi nhận trong bản Đại Tuyên ngôn về các quyền tự do (Magna Carta) năm 1215 và sau này là trong bản Tuyên ngôn về các quyền của Vương quốc Anh.
Với truyền thống vận động hành lang lâu đời như vậy, nhà nước đã ban hành nhiều quy định thành văn liên quan đến các quan hệ giữa các nghị sĩ với các nhóm lợi ích. Tuy nhiên, những quy định này chủ yếu liên quan tới lợi ích tài chính của chính bản thân các nghị sĩ cũng như hành vi cá nhân của họ hơn là về việc kiểm soát các lợi ích của bên thứ ba. Cơ sở của bộ luật hiện hành được đề ra vào tháng 10 - 1994, khi Thủ tướng John Major thành lập Ủy ban Nolan (Ủy ban về các tiêu chuẩn trong đời sống công) để nghiên cứu các mối quan tâm hiện tại về tiêu chuẩn hành vi của tất cả những lãnh đạo các cơ quan công quyền, bao gồm việc vận hành các hoạt động tài chính và thương mại và đề xuất các thay đổi cơ chế hiện nay để đảm bảo các tiêu chuẩn cao nhất về tính liêm khiết của công chức trong bộ máy công quyền. Tại Thượng viện Anh không có bản đăng ký chính thức hay danh sách công khai các chuyên gia vận động hành lang và không có quy tắc hay bộ luật hành vi nào áp dụng cho những người vận động. Nói chung, Thượng viện có cơ sở vật chất phục vụ cho các thượng nghị sĩ chứ không dành cho những người vận động hành lang hay các nhóm lợi ích, mặc dù các nghị sĩ được các nhóm lợi ích hỗ trợ để phục vụ cho các cuộc họp và thực thi chức năng của mình. Tháng 11- 1995, Thượng viện đồng ý lập Bản đăng ký các lợi ích của nghị sĩ theo đề xuất của Ủy ban thủ tục, theo đó: 1) Bắt buộc các thượng nghị sĩ kê khai các khoản  tiền thu được do cung cấp tư vấn về các vấn đề Nghị viện cho bên ngoài; 2) Bắt buộc các thượng nghị sĩ kê khai các lợi ích tài chính tại các công ty vận động hành lang; 3) Các thượng nghị sĩ tùy chọn đăng ký và thể hiện các lợi ích khác. Bản đăng ký này được xuất bản hằng năm. Để thực hiện Bản đăng ký này, một tiểu ban của Ban đặc quyền Thượng viện được thành lập có chức năng giám sát các nghị sĩ. Tiểu ban này sẽ điều tra tất cả các cáo buộc về một thượng nghị sĩ nào đó vi phạm các quy định của Bản đăng ký.
Tại Hạ viện, báo cáo của Ủy ban Nolan được thông qua vào tháng 5 – 1995 đã không đề xuất việc đăng ký bắt buộc đối với các nhà vận động hành lang nhưng có đề nghị cấm các hạ nghị sĩ tham gia các hợp đồng liên quan đến vai trò của họ để thực hiện dịch vụ cho hoặc thay mặt các tổ chức cung cấp dịch vụ về các vấn đề Nghị viện có thu phí. Tháng 11 -1995, tại “Hướng dẫn về các Quy tắc liên quan tới hành vi của nghị sỹ”, Hạ viện đã đồng ý bổ sung thêm một chương về “Vận động hành lang có tiền công hay lợi ích khác”và được cập nhật vào tháng 5 - 2002. Hướng dẫn này nhấn mạnh rằng trách nhiệm cấm vận động hành lang để lấy tiền công hay lấy các lợi ích khác thuộc về cá nhân nghị sĩ.
Tháng 12 -1995, sau khi có các quan ngại về việc các chuyên gia vận động hành lang tiếp cận Hạ viện dưới vỏ bọc là nhân viên của các nghị sĩ, Hạ viện đã quy định các nhà báo, nhân viên của các nghị sĩ phải đăng ký mới được làm việc tại cơ quan quyền lực nhất nước Anh này. Các chuyên gia này không được cấp thẻ riêng và không có quyền được cấp thẻ an ninh. Vì thế, vẫn chưa có danh sách công khai hay bản đăng ký công khai các nhà vận động hành lang tại Nghị viện Anh. Các tổ chức phi chính phủ như Charter 88 (Một nhóm áp lực ở Anh chủ trương vận động nhằm cải cách Hiến pháp và thể chế bầu cử) đã chỉ trích việc này, xem đó là một thất bại trong quy định nội bộ của Nghị viện. Charter 88 cũng đề xuất rằng, cần có một bộ luật quy định việc công khai những người vận động hành lang cũng như mục tiêu, đối tượng và thời gian vận động của họ, đồng thời phải có hình phạt đối với những ai không tuân thủ.Tuy nhiên, hai tổ chức Vận động hành lang tại Nghị viện Anh là Hiệp hội các nhà tư vấn chính trị chuyên nghiệp Viện quan hệ công chúng đã cùng đưa ra một văn bản có tên là Bộ luật hành vi để tự điều chỉnh các vấn đề của họ. Họ đã lập các bản đăng ký những nhà vận động hành lang chuyên nghiệp. Mặc dù mới chỉ là các quy định và đăng ký tự nguyện do các tổ chức này tự đề ra, các quy định này cũng giống như là lời thách thức đối với việc cần phải có một quy định cụ thể hơn về Vận động hành lang tại Nghị viện.
Năm 1992, Chính phủ Vương quốc Anh đã ban hành Bộ quy tắc điều chỉnh hành vi của Bộ trưởng, trong đó quy định “Bộ trưởng không được phép cố ý lừa dối Quốc hội và công chúng và phải công khai trước Quốc hội và công chúng các cuộc tiếp xúc với người vận động, chỉ giữ kín thông tin khi việc tiết lộ sẽ không đem lại lợi ích cho cộng đồng, những điều cần được quyết định phải phù hợp với quy ước của Quốc hội, quy định của pháp luật và quy tắc trong Chính phủ có liên quan”. Năm 1999, Văn phòng Nội các đã ban hành Quy định chi tiết về các giao dịch giữa cán bộ công chức và các nhà Vận động hành lang. Đến năm 2007, Thủ tướng Anh Tony Blair đã bổ sung vào Bộ quy tắc này các quy định liên quan đến các cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng, theo đó quy định: “Cố vấn đặc biệt cần làm việc một cách công khai và trung thực; không được lạm dụng vị trí chính thức của mình hoặc thông tin mình có được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính thức để dùng vào lợi ích riêng của cá nhân mình hoặc vì lợi ích cá nhân của người khác; không được nhận bất kỳ loại quà cáp nào được cho là làm ảnh hưởng đến việc phán xét cá nhân của mình hoặc tập thể”.
Năm 2009, Ủy ban Lựa chọn các vấn đề công cộng của Hạ viện Anh đã công bố một bản báo cáo có tên gọi: “Vận động hành lang: Tiếp cận và ảnh hưởng ở Whitehall” trong đó chỉ ra rằng: Thực tiễn vận động hành lang để gây ảnh hưởng đến các quyết định chính trị là chính đáng và là một phần không thể thiếu của các quá trình dân chủ. Các tổ chức và cá nhân có lý khi muốn tác động đến các quyết định có ảnh hưởng đến họ. Ngược lại, chính phủ cũng cần tiếp cận các thông tin và quan điểm mà hoạt động vận động mang lại. Báo cáo cũng đã khuyến nghị về nhu cầu phải có một bản đăng ký mang tính bắt buộc đối với hoạt động vận động hành lang để mang lại sự minh bạch cao hơn cho các giao dịch giữa các nhà hoạch định chính sách ở Whitehall với các nhóm lợi ích bên ngoài.
Báo cáo này cũng kết luận rằng việc tự điều chỉnh của các ngành công nghiệp vận động hành lang chuyên nghiệp là phân tán, và ít liên quan đến các nội dung chi tiết của việc vận động. Trong tháng 10 năm 2009, chính phủ đã thể hiện quan điểm với báo cáo của PASC bằng cách từ chối yêu cầu phải có một bản đăng ký bắt buộc đối với các nhóm vận động hành lang. Tuy nhiên, tất cả các Bộ sẽ phải công bố trực tuyến các bản báo cáo hàng quý chi tiết về các cuộc tiếp xúc cấp bộ với các nhóm lợi ích và những hỗ trợ nhận lại từ các bộ trưởng và các cố vấn của họ. Chi tiết về các cuộc tiếp xúc giữa các quan chức với các nhóm lợi ích bên ngoài sẽ không phải công bố.Danh sách các công chức, những người phải công bố chi tiết về những hỗ trợ và các khoản chi phí sẽ được mở rộng.Ngành công nghiệp vận động hành lang cần thêm thời gian để tự điều chỉnh nhưng chưa đưa ra thời hạn cụ thể nào cho vấn đề này. Liên minh vì sự minh bạch của ngành vận động hành lang đã chỉ trích những quyết định này là “tự điều chỉnh cũng có nghĩa là không có quy định”, họ so sánh với bối cảnh các bê bối trong chi tiêu của các nghị sĩ.
Gần đây nhất, một Đạo luật được cho là có quy định cụ thể hơn về vận động hành lang được thông qua ở Anh nhưng lại chỉ được áp dụng từ ngày 19 tháng 9 năm 2014 đến ngày 07 tháng 5 năm 2015 nên được gọi là "giai đoạn điều chỉnh”, chủ yếu đưa ra những quy định liên quan đến việc gây quỹ của các tổ chức từ thiện cho các chương trình vận động tranh cử của các ứng cử viên và các đảng chính trị trong cuộc tổng tuyển cử 2015. Điều này xuất phát từ thực tế, tại Anh, trong các cuộc chạy đua vào Hạ viện, các đảng chính trị mà cụ thể là hai đảng lớn là Công đảng và Bảo thủ cần rất nhiều điều kiện, trong đó tiền có vai trò quan trọng. Do đó, cần thiết phải quy định chặt chẽ về vận động hành lang trước và trong mỗi kỳ bầu cử.
Tựu chung lại, ở Anh hiện nay vẫn vắng bóng một quy định hay luật chính thức của Chính phủ về vận động hành lang. Những quy định hiện có lại không cụ thể, rõ ràng và chi tiết, đặc biệt, do chính các tổ chức chuyên về vận động hành lang tự đặt ra, do đó, có thể nói, ở bình diện quốc gia, Vương quốc Anh vẫn chưa có Luật chính thức về vận động hành lang.
3. Tại Pháp
Tại Pháp, thời điểm trước cuộc cách mạng tư sản năm 1789, các nhóm lợi ích đại diện cho quyền lợi của người dân Pháp đã ra đời dựa trên sự phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Anh, các hoạt động vận động tại Nghị viện Pháp cũng bắt đầu manh nha. Tuy nhiên, đến khi cuộc cách mạng Pháp năm 1789 nổ ra thì Jacobean cho rằng quốc gia cần loại bỏ bất cứ sự can thiệp nào của các tập đoàn trong cuộc tranh luận công. Luật Le Chapelier được ban hành vào ngày 14 tháng 6 năm 1791 đã nghiêm cấm các nhóm lợi ích tham gia vào diễn đàn chính trị. Quan hệ giữa nhà nước và công dân phải là quan hệ trực tiếp nhất và nó không được các tập đoàn tư nhân đứng trung gian xen vào. Vì vậy, vận động hành lang không được công chúng ủng hộ. Ý tưởng Jacobean xuất phát từ tư tưởng của Jean - Jacques Rousseau: “không gì nguy hiểm hơn là sự tác động của lợi ích cá nhân lên chính sách công”. Và vì vậy, trong các Hiến pháp của Pháp rất dễ nhận thấy sự coi thường các nhóm lợi ích, như Điều 3 của Hiến pháp năm 1958 khẳng định: “Chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân thông qua các đại biểu hoặc nghị viện và trưng cầu dân ý, không bộ phận người dân hay cá nhân nào được chiếm lấy”. Không có quy định luật pháp nào thuộc về nhóm quyền lợi riêng mặc dù trên thực tế chúng tồn tại. Tuy nhiên, việc thành lập Liên minh châu Âu (EU) sau này đã có tác động lớn đến các hoạt động vận động hành lang tại Pháp.
Hiện nay, Pháp không có Luật về hành vi đối với những đại diện của các nhóm lợi ích, Thượng viện Pháp không có Bản đăng ký hay danh sách các nhóm áp lực. Các nhóm hay tổ chức chuyên nghiệp muốn tiếp xúc với Thượng viện cần đệ đơn tới Ban Chủ tịch Thượng viện để xin phép. Ban Tổng thư ký của Chủ tịch sẽ giải quyết yêu cầu này. Các hoạt động theo đó cũng không bị chế tài và không được đề cập đến trong bất cứ điều luật hành vi đạo đức nào. Không có danh sách hay bản đăng ký các nhóm áp lực, chỉ có 1 điều khoản duy nhất có liên quan là các sắc lệnh chung của Ủy ban Quốc hội về việc đi lại trong Quốc hội. Yêu cầu của các nhóm có thể được Ban Quaestor - Ủy ban quản lý vấn đề tài chính của Quốc hội giải quyết. Ban này có thể cho phép tiếp cận với Thượng viện và các hành lang của Thượng viện nếu các nhóm chuyên nghiệp này được xem là quan trọng hay có tính chất đại diện lớn. Trên thực tế, mỗi năm, Ban Quaestor đã cấp hơn 20 thẻ ra vào, khoảng hơn chục giấy ra vào hành lang của Thượng viện. Như vậy, ở Pháp, tất cả những ai có thẻ đặc biệt được Chủ tịch Quốc hội hay các Quaestor cung cấp thì mới được tiếp cận Quốc hội. Ngược lại, bất cứ ai có hành vi không phù hợp đều phải chịu sự cảnh báo hoặc bị khiển trách theo yêu cầu của thượng nghị sỹ.
Điều 79 Luật về thủ tục cấm các nghị sỹ sử dụng địa vị của mình hoặc cho phép sử dụng địa vị của mình vào việc khác ngoài việc thực thi trách nhiệm của nghị sỹ với các hình phạt cụ thể cho việc bất tuân thủ. Các nghị sĩ Pháp cũng bị cấm tham gia vào các tổ chức hay nhóm bảo vệ lợi ích cá nhân, địa phương hay nghề nghiệp hoặc có cam kết với các nhóm này trong hoạt động Quốc hội của họ. Khung vận động hành lang ở Pháp đặc trưng bởi sự tồn tại của hai hệ thống khác nhau trong Quốc hội: Một tại Hạ viện và một tại Thượng viện và bởi sự vắng mặt gần như các quy tắc ở các cơ quan có quyền ra quyết định công khác. Hơn nữa do thiếu một khuôn khổ chung thống nhất nên quy định về sự tham gia của các nhân vật chính trị khác nhau cũng không giống nhau. Với sự phân chia quyền lực mang tính đặc trưng của nhà nước Pháp, các quy tắc về đạo đức áp dụng cho các cơ quan công cộng khác với cho các nghị sĩ. Ngoài ra, hiện nay không có một quy định cụ thể nào dành riêng cho hoạt động vận động hành lang đối với các chế định khác của cơ quan nhà nước như chính quyền trung ương, các Bộ, Nội các, cố vấn của Tổng thống Cộng hòa, các cơ quan chuyên môn, các cơ quan độc lập, chính quyền địa phương. Nói cách khác, không có luật xác định và điều chỉnh các hoạt động vận động hành lang ở Pháp. Điều này không phải chỉ xảy ra với riêng Nghị viện Pháp mà còn đúng với tất cả các cơ quan nhà nước khác. Kể cả trong trường hợp nếu có các quy tắc liên quan đến vận động hành lang tại Quốc hội và Thượng viện, thì Pháp cũng chỉ coi đó là một phần nhỏ trong các mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích và các nghị sĩ. Quan trọng hơn vẫn là sự kiểm soát việc tôn trọng các quy tắc trong thực tế và thiếu cơ chế kích hoạt để khuyến khích công dân tham gia vào quá trình này.           
Ở Pháp cũng không có quy tắc dành riêng cho các nghị sĩ sau khi hết nhiệm kỳ. Họ có thể tiếp tục cung cấp các dịch vụ tư vấn và có vai trò như các chuyên gia vận động hành lang với điều kiện trước khi nhận công vụ, họ đã được quyền cung cấp các dịch vụ như vậy. Mặt khác, đối với công chức khác, có một khuôn khổ để quản lý và kiểm soát việc họ tham gia vào khu vực tư nhân. Việc kiểm soát này áp dụng cho tất cả các cơ quan công quyền bao gồm các cố vấn cấp Nội các và các quan chức Chính phủ khác, đặc biệt là từ khi pháp luật về tính minh bạch được ban hành và áp dụng với tất cả các thành viên của chính phủ và của các cơ quan hành pháp ở địa phương. Tuy nhiên, trong thực tế, quy định về kiểm soát này không phải luôn luôn được tôn trọng bởi vì khả năng áp dụng của nó trong thực tế là tương đối phức tạp. Mặc dù vậy, Pháp vẫn có những nỗ lực đáng kể trong việc xây dựng và cải tạo môi trường cho hoạt động vận động hành lang.
Gần đây nhất, Tổ chức minh bạch Pháp đã phát triển một bản hướng dẫn thiết kế để tính toán chi phí vận động hành lang, điều mà lẽ ra cần phải được đề cập trong Luật đăng ký của Quốc hội Pháp với sự hợp tác của một nhóm các công ty. Nhóm thí điểm này gồm Sân bay Pari, Ngân hàng quốc gia Pari, Tập đoàn Cô ca - Cô la, Ngân hàng tín dụng nông nghiệp, Công ty xổ số và tổ chức các trò chơi cá cược thể thao, Ngành Bưu điện, Tập đoàn sản xuất rượu Pernod Ricard, Ngân hàng Societe Generale và Văn phòng tư vấn về quan hệ công chúng và truyền thông phối hợp trong nỗ lực thiết kế một bản hướng dẫn với mục tiêu chuẩn hóa các phương pháp tính chi phí vận động hành lang nhằm hướng đến sự minh bạch hơn. Cho đến nay, Quốc hội Pháp chỉ đòi hỏi các chủ thể vận động hành lang phải báo cáo ngân sách phân bổ cho hoạt động vận động hành lang quốc hội nhưng điều này cũng không bắt buộc. Bên cạnh đó, theo một đánh giá của báo cáo ngân sách cho thấy, do sự thiếu chuẩn hóa trong báo cáo như vậy, các thông tin có thể rất khác nhau giữa các tổ chức và do đó cũng rất khó để so sánh và phân tích. Bản hướng dẫn được coi như một tài liệu tham khảo cho tất cả các tổ chức. Nó được xây dựng bởi các đối tác thuộc khu vực tư nhân bao gồm các tổ chức như liên đoàn chuyên nghiệp, các hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ, công đoàn, các tổ chức tư vấn, … trong đó thiết lập một cơ sở chung của các tiêu chuẩn cho các báo cáo ngân sách vận động hành lang tại nghị viện. Nó được xây dựng và phát triển bằng cách thu thập ý kiến phản hồi đồng thời có tính đến những thay đổi quy định có thể xảy ra trong tương lai. Đây chính là nỗ lực mới mẻ và tích cực nhất hướng tới xây dựng các quy định và luật về vận động hành lang ở Pháp thời gian tới.
4. Tại Canada
Khoảng giữa những năm 80 (thế kỷ XX), tại Canada xuất hiện một số chính sách được cho là bất thường, có lợi rõ rệt cho một vài nhóm đối tượng trong xã hội nhưng không ai rõ “đường đi, nước bước” của việc ban hành các chính sách đó. Phải chăng là có sự vận động hành lang giữa các nhóm lợi ích trong xã hội đến những người hoạch định chính sách? Từ đây nảy sinh nhu cầu cần phải chính thức hóa hoạt động vận động hành lang. Sự tác động của vận động hành lang làm cho pháp luật về vận động hành lang được hình thành từ thời điểm này ở Canada.
Mục đích chính của việc ban hành pháp luật về vận động hành lang là để công chúng biết được ai là người tác động đến việc xây dựng chính sách, pháp luật và ai là người chịu sự tác động đó. Điều này góp phần hạn chế tình trạng “đi đêm” của các nhóm lợi ích với những người có chức vụ, quyền hạn. Qua đó, kiểm soát được quá trình hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật và ra quyết định của những người có thẩm quyền, làm tăng trách nhiệm cá nhân của họ trước công chúng, cũng như làm tăng sự minh bạch trong các hoạt động của cơ quan công quyền. Nói cách khác, pháp luật vận động hành lang được xây dựng và phát triển nhằm mục đích bảo đảm tính thanh liêm, công khai, minh bạch trong việc ra quyết định; tuân thủ các quy định về chống xung đột lợi ích và quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn cũng như người vận động hành lang.
Hệ thống pháp luật về vận động hành lang ở Canada được hình thành ở cả 3 cấp: liên bang, tiểu bang và thành phố. Năm 1985, Luật đăng ký vận động hành lang được ban hành ở cấp liên bang. Sau đó, các tiểu bang lần lượt ban hành Luật vận động hành lang(1), cụ thể là: bang Ontario (1998); Nova Scotia (NS) (2001); British Columbia (BC) và Quebec(2) (2002); Newfoundland (NFDL) và Labrador(3) (2004); Alberta (AB) (2007).
Bang Manitoba thông qua luật vào năm 2008 nhưng hiện vẫn chưa có hiệu lực. Ngoài ra, còn có hai thành phố là Toronto và Ottawa cũng đã ban hành Luật vận động hành lang riêng cho thành phố của mình.
Luật vận động hành lang ở cấp tiểu bang, cấp thành phố có nhiều quy định cụ thể, chặt chẽ hơn so với Luật vận động hành lang ở cấp liên bang. Các lĩnh vực thuộc phạm vi vận động hành lang cũng được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên không hoàn toàn giống nhau giữa các cấp chính quyền. Ở cấp chính quyền liên bang, vận động hành lang tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp, thuế và tài chính, môi trường, thương mại quốc tế, y tế, khoa học và công nghệ, giao thông vận tải, các vấn đề đối với người tiêu dùng, cơ sở hạ tầng, năng lượng. Ở cấp tiểu bang, cụ thể là bang Ontario, hoạt động này lại ưu tiên cho các vấn đề về môi trường, y tế, năng lượng, thuế và tài chính, ngành công nghiệp, phát triển kinh tế, thương mại, giao thông, khoa học, công nghệ, sản xuất và mua sắm công...
Tại Canada, Vận động hành lang và người vận động hành lang được hiểu khác nhau ở từng cấp:
Ở cấp liên bang, vận động hành lang là sự tiếp xúc, trao đổi, truyền đạt với người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước có hoạt động liên quan đến hoạch định chính sách nhằm các mục đích: đưa ra các sáng kiến lập pháp; xây dựng, bãi bỏ hoặc sửa đổi các dự án luật, nghị quyết; xây dựng, sửa đổi các quy định dưới luật; xây dựng, sửa đổi chính sách, chương trình, kế hoạch hoạt động; trao các giải thưởng, các khoản đóng góp hoặc các nguồn lợi tài chính khác… Người vận động hành lang ở cấp liên bang được chia làm 02 loại: Nhân viên chuyên trách vận động hành lang và cá nhân tư vấn vận động hành lang.  Nhân viên chuyên trách vận động hành lang là những người lao động được trả lương thay mặt cho cá nhân, tổ chức thực hiện việc vận động hành lang. Hoạt động vận động hành lang phải là nhiệm vụ chính của nhân viên đó ở trong doanh nghiệp hoặc hiệp hội của họ. Sự khác biệt giữa các nhân viên chuyên trách vận động hành lang trong doanh nghiệp và hiệp hội là chế độ khai báo, chế độ đăng ký. Còn cá nhân tư vấn vận động hành lang là những người nhận thù lao để vận động hành lang đại diện cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào.
Ở cấp tiểu bang, ngoài việc liệt kê những hoạt động như luật của liên bang còn giải thích sâu hơn về nội hàm của vận động hành lang, đó là sự liên lạc, kết nối phải nhằm gây ảnh hưởng đến người có chức vụ, quyền hạn. Ngoài ra, một số bang còn mở rộng phạm vi áp dụng Luật đối với quá trình tư nhân hóa, bán, khoán tài sản của bang hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khu vực công... Ở cấp tiểu bang, pháp luật cũng chia người vận động hành lang thành 02 loại như luật của liên bang nhưng chỉ rõ nhân viên chuyên trách vận động hành lang phải là người làm việc theo chế độ cơ hữu (toàn thời gian). Hầu hết các bang không phân biệt giữa nhân viên chuyên trách vận động hành lang trong hiệp hội và trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo Luật vận động hành lang của Quebec, nhân viên chuyên trách vận động hành lang được chia làm 02 loại, một loại dành cho hiệp hội (phi lợi nhuận), một loại dành cho doanh nghiệp (vì lợi nhuận). Còn đối với cá nhân tư vấn vận động hành lang thì được định nghĩa giống như trong luật liên bang và không phải đăng ký theo giờ làm việc.
Việc tiếp xúc, trao đổi, truyền đạt có thể được thực hiện thông qua các hình thức: gọi điện, viết thư, gửi thư điện tử, gặp trực tiếp.
Vận động hành lang ở Canada phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này mang thiên hướng cởi mở đối với hoạt động vận động hành lang. Đáng kể phải nói đến một số nguyên tắc như sau:
  • Việc tiếp cận đến Chính phủ một cách tự do và cởi mở.
  • Vận động hành lang đối với người có chức vụ, quyền hạn là hoạt động hợp pháp.
  • Những người có chức vụ, quyền hạn và công chúng phải được biết những ai đang tham  gia  vào  hoạt  động  vận  động hành lang;
  • Hệ thống đăng ký những người được trả tiền để vận động hành lang không ngăn cản việc tiếp cận tự do và cởi mở với Chính phủ.
Các nguyên tắc cởi mở và minh bạch hóa quá trình tác động rất lớn đến người ra chính sách. Điều này thể hiện rõ nhất ở quá trình đăng ký vận động hành lang. Ở cả cấp liên bang và tiểu bang đều có một số lượng đáng kể điều khoản cho nội dung này.
Một là, quy định những hoạt động phải đăng ký, không phải đăng ký vận động hành lang. Cụ thể là:
- Phải đăng ký vận động hành lang đối với những hoạt động liên hệ để xin trợ cấp, đóng góp hoặc hợp đồng; xác định cần thêm những thông tin nào cho việc cải thiện hoặc đẩy nhanh một quy trình đã được thông qua; thương lượng các điều khoản có liên quan tới một lợi ích tài chính cụ thể.
- Không phải đăng ký hoạt động vận động hành lang đối với những hoạt động xin thông tin có sẵn; thông tin chung về các điều kiện của chương trình, kế hoạch, quy trình; tham gia vào các hoạt động do chính phủ, các ủy ban của Quốc hội khởi xướng như tư vấn, hội đàm, hội nghị bàn tròn hoặc các hoạt động tương tự với mức độ minh bạch cao như có quyết định về thành phần tham gia, có nhiều người tham gia và có biên bản cuộc họp…
Hai là, quy định miễn đăng ký vận động hành lang.
Cấp liên bang có quy định miễn đăng ký vận động hành lang khi giao tiếp bằng lời hoặc bằng văn bản với người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực công nhưng chỉ giới hạn ở mức yêu cầu thông tin đơn giản, trừ những vấn đề mà Luật quy định phải đăng ký như đã liệt kê ở trên.
Ngoài quy định miễn trừ như Luật của liên bang, các tiểu bang còn quy định miễn trừ đối với một số trường hợp khác. Bang Alberta quy định “Miễn đăng ký vận động hành lang trong trường hợp người vận động hành lang thay mặt cho một người hoặc một tổ chức tiếp xúc với người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực công để trả lời những yêu cầu của họ về những vấn đề được quy định ở mục 1(1)(f)(i) của Đạo luật này”(4). Một số tiểu bang chỉ quy định miễn đăng ký đối với trường hợp này khi có yêu cầu bằng văn bản, một số tiểu bang khác lại quy định miễn đăng ký đối với cả yêu cầu bằng lời và văn bản. Ví dụ, người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực công yêu cầu một công ty hay nhóm công ty góp ý dự thảo chính sách hoặc điều luật thì không cần phải đăng ký vận động hành lang theo Luật của bang Alberta, nhưng theo luật liên bang thì trường hợp trên lại không được miễn trừ.
Ba là, quy định ngưỡng thời gian tối thiểu của hoạt động vận động hành lang phải đăng ký.
Ở cấp liên bang, những nhân viên chuyên trách vận động hành lang phải đăng ký, khai báo khi mà làm công việc vận động hành lang của họ vượt quá giới hạn về thời gian (ngưỡng tối thiểu) theo quy định. Cụ thể là họ phải đăng ký vận động hành lang khi phần lớn công việc của họ là hoạt động vận động hành lang. "Phần lớn công việc" được giải thích là nếu thời gian vận động hành lang chiếm hơn 20% tổng thời gian thực hiện nghĩa vụ của họ. Tỉ lệ này được xác định theo các hoạt động của nhân viên đó trong vòng một tháng và dựa trên tổng thời gian mà người đó phải sử dụng để chuẩn bị cho việc liên hệ với người có chức vụ, quyền hạn, gồm việc nghiên cứu tài liệu, soạn thảo văn bản, lập kế hoạch làm việc và đi lại. Ngưỡng 20% thời gian nêu trên còn có thể được tính là tổng hợp hoạt động vận động hành lang của bất kỳ nhân viên nào của tổ chức (doanh nghiệp hoặc hiệp hội) thực hiện trên tổng thời gian làm việc một tháng của một nhân viên. Còn đối với cá nhân tư vấn vận động hành lang, pháp luật không quy định mức giới hạn thời gian làm việc, nhưng lại quy định những loại việc vận động hành lang phải đăng ký, như việc sắp xếp những cuộc gặp với người có chức vụ, quyền hạn, cũng như kết nối các mối quan hệ để có được các hợp đồng kinh tế, thương mại hoặc khi thực hiện công việc vận động hành lang mà đã được thoả thuận trước đó.
Ở Quebec, Luật vận động hành lang quy định cần ghi lại chi tiết các hoạt động nếu tổng số thời lượng dành cho việc vận động hành lang toàn công ty là từ 12 ngày trở lên trong 01 năm tài chính; người vận động là giám đốc hoặc thành viên hội đồng quản trị; việc vận động hành lang có tác động lớn đến công ty. Nếu đạt ngưỡng 12 ngày, tất cả những người trong tổ chức hoặc doanh nghiệp thực hiện vận động hành lang đều phải đăng ký. Còn theo luật bang Alberta và British Columbia, khi tổ chức vận động hành lang ít nhất 100 giờ hàng năm, tất cả những người vận động hành lang (hoặc có nhiệm vụ vận động hành lang) thay mặt cho tổ chức  đều  có  nghĩa  vụ  đăng  ký.  Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa hai bang này, đó là ở British Columbia, thời gian chuẩn bị cũng được tính trong 100 giờ, còn ở Alberta, thời gian chuẩn bị không tính trong ngưỡng 100 giờ.
Bốn là, quy định về người đăng ký và hồ sơ đăng ký vận động hành lang.
Ở cấp liên bang, người đăng ký vận động hành lang là nhân viên nắm giữ chức vụ cao cấp nhất của doanh nghiệp. Hồ sơ đăng ký gồm 02 danh sách: nhân viên cấp cao dành một phần quan trọng nhiệm vụ của mình liên hệ với cán bộ công quyền và nhân viên cấp cao khác không thuộc danh sách trên.
Ở cấp tiểu bang, người đăng ký cũng được quy định tương tự, nhưng tại một số tiểu bang, hồ sơ đăng ký chỉ gồm 01 danh sách. Ở các bang Aberta, British Columbia, Quebec, Newfoundlan và Manitoba, khi tổ chức đã đạt ngưỡng thời gian tối thiểu thì bất cứ nhân viên nào có nhiệm vụ vận động hành lang cũng phải đăng ký.
Năm là, quy định về thời gian đăng ký vận động hành lang.
Ở cả cấp tiểu bang và liên bang, hiệp hội và doanh nghiệp sử dụng nhân viên của mình để vận động hành lang cần nộp bản đăng ký trong vòng 02 tháng kể từ ngày đầu tiên xuất hiện yêu cầu nộp bản kê chi tiết. Cá nhân tư vấn vận động hành lang phải đăng ký trong vòng 10 ngày kể từ ngày đảm nhận hoạt động vận động hành lang, và chỉ cần nộp 01 bản kê các hoạt động cho mỗi lần đảm nhiệm, kể cả khi người đó thực hiện nhiều hoạt động vận động hành lang cho lần đảm nhiệm đó.
Cả luật tiểu bang và liên bang đều cho phép gia hạn 6 tháng/lần nếu hoạt động vận động hành lang tiếp tục hoặc được đề xuất tiếp tục, hoặc gia hạn sớm hơn nếu thông tin đăng ký ban đầu thay đổi.
Sáu là, quy định về nội dung bản kê chi tiết hoạt động vận động hành lang.
Việc liên hệ với DPOH phải được ghi rõ trong báo cáo hàng tháng nếu đó là liên hệ bằng lời, được đặt trước và do nhà vận động hành lang đề nghị hoặc do DPOH khởi xướng khi đề cập tới việc trao tài trợ, các khoản đóng góp, các lợi ích tài chính khác hoặc các hợp đồng.
Nội dung bảng kê chi tiết hoạt động hàng tháng nêu trên bao gồm: tên, nơi công tác, chức vụ của DPOH, ngày liên hệ, vấn đề liên hệ. Tuy nhiên, theo luật tiểu bang, những liên hệ như trên không yêu cầu ghi lại hàng tháng.
Song song về tính cởi mở của quy định về vận động hành lang, pháp luật Canada cũng quy định về các chế tài đối với các hoạt động này nhằm thắt chặt các hình thức vận động bất hợp pháp. Ở cấp liên bang, hành vi không ghi lại bản kê chi tiết hoạt động hoặc cố ý ghi sai, gây nhầm lẫn trong bản kê khai chi tiết hoạt động hoặc những tài liệu đệ trình khác có thể bị nộp phạt lên đến 50.000$ và/hoặc 6 tháng tù giam cho những tội ít nghiêm trọng; tiền phạt có thể lên tới 200.000$ và/hoặc 2 năm tù giam nếu bị truy tố. Ở các tiểu bang Alberta, Ontario, Quebec, một người phạm tội có thể phải chịu mức phạt 25.000$ (ở Alberta có thể lên đến 100.000$) nếu người đó không đăng ký đúng hạn; không cung cấp thông tin cho người đăng kí nếu điều đó được yêu cầu dựa trên nguyên tắc hoạt động liên tục; cố ý ghi sai hoặc ghi thông tin gây nhầm lẫn; không tuân theo các quy định cấm trong Luật. Theo Luật bang British Columbia, cá nhân  phạm  tội  có  thể  chịu  phạt  lên  tới 50.000$ và/hoặc bị phạt tù không quá 6 tháng nếu người đó không đăng ký đúng hạn hoặc cố ý ghi sai hoặc ghi thông tin gây nhầm lẫn. Một người bị truy tố theo Đạo luật này cũng có thể bị cấm vận động hành lang 01 năm (ở Quebec) hoặc 02 năm (ở Alberta, British Columbia).
III. Một số nhận xét
Có thể thấy vận động hành lang có vai trò rõ rệt trong hệ thống chính trị của mỗi nước. Đó vừa là chiếc cầu nối giữa xã hội với các nhà hoạch định chính sách. Vận động hành lang đem lại cơ hội tiếp xúc, trao đổi và lắng nghe lẫn nhau giữa công chúng với các quan chức trong chính phủ, từ đó, các chính sách được đưa ra sẽ phù hợp và thiết thực hơn; vừa là công cụ giúp cho những nhóm công chúng cụ thể có thể góp phần tham gia vào quá trình hoạch định chính sách của nhà nước. Vận động hành lang là biện pháp hiệu quả nhất để các nhóm lợi ích bảo vệ tối đa lợi ích của mình, hạn chế đến mức thấp nhất các chính sách bất lợi; vừa là con đường giúp các chính phủ nước ngoài tiếp cận dễ dàng hơn với chính phủ và các chính sách của một quốc gia, thông qua việc thuê các nhà vận động hành lang chuyên nghiệp. Nhiều chính phủ nước ngoài đã thành công trong việc giải quyết các mâu thuẫn, những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ hai nước vốn không dễ hóa giải được trên các bàn đàm phán ngoại giao.
Tại Việt Nam, các nhóm lợi ích và “vận động hành lang” còn chưa phổ biến, và đôi khi những khái niệm này còn được hiểu theo nghĩa tiêu cực. Dù nền tảng Hiến pháp đã ghi nhận quyền tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị và quá trình ra quyết định của cơ quan nhà nước, đặc biệt là quyền yêu cầu người đại biểu nhân dân lắng nghe, truyền đạt ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đối với chính sách, pháp luật, nhưng việc thực hiện còn khá khiêm tốn và hạn chế. Cũng có khi các hiệp hội, tổ chức, cá nhân gặp gỡ người có thẩm quyền đề nghị xem xét lại chính sách, qui định… nhưng đây không phải là hoạt động vận động hành lang đúng nghĩa mà là sự “chạy chọt”. Cơ sở của vận động hành lang là quyền lợi mâu thuẫn nhau, đặt trên nền tảng đa nguyên. Mục đích vận động hành lang là vì lợi ích kinh tế. Và để thực hiện nó phải bằng tiền. ở Việt Nam, lợi ích là thống nhất nên việc vận động hành lang trong lập pháp thực chất không tồn tại. Tuy nhiên, vận động hành lang là một vấn đề mới và cần phải nghiên cứu để xây dựng một hành lang pháp lý cho hoạt động này ở nước ta.
Có một thực tế là sau những lần thua liên tiếp trong các vụ kiện bán phá giá tôm, cá basa hay hạn ngạch xuất khẩu sản phẩm may mặc, dần dần, Việt Nam cũng thấy rõ một điều rất vô lý, khi phía Việt Nam thậm chí còn chưa kịp đưa ra các bằng chứng chống kiện, thì Quốc hội Mỹ đã thông qua dự thảo đánh thuế hàng hoá của Việt Nam. Lý do rất đơn giản: các tổ chức tại Việt Nam lúc này chưa hề nắm rõ thị trường Mỹ và cũng đã không có một ý tưởng nào về việc thuê các nhà vận động hành lang (Vận động hành langist) trong vụ kiện (chi phí thuê Vận động hành lang cho dù là có khá lớn, nhưng thực chất không ăn thua gì so với thiệt hại khoảng 20 triệu USD từ việc Mỹ nâng mức thuế chống bán phá giá đánh vào sản phẩm cá tra, basa đông lạnh). Trong khi đó, những tổ chức như Liên minh Tôm miền Nam (SSA) và Hiệp hội Tôm bang Lousiana (LSA), ngoài việc thuê Công ty Luật Dewey Ballantine, họ còn sử dụng hàng loạt các công ty chuyên hành nghề vận động hành lang nổi tiếng tại đây như Livingston, Jones Walker, Waechter, Poitevent&Denegre… để vận động các quan chức hai viện Mỹ ủng hộ họ trong vụ kiện bán phá giá Việt Nam.
Theo tin từ Bộ Tư pháp Mỹ, “ở khu vực Đông Nam á, cho đến năm 2004, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động vận động hành lang, còn các quốc gia và vùng lãnh thổ như Campuchia, Hongkong, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Singapore, Thái Lan, Philippines đều có các khoản chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu USD cho hoạt động vận động hành lang ở Mỹ. Mục tiêu vận động hành lang của các quốc gia này là vận động để Mỹ ủng hộ trong các mối quan hệ chính trị, thương mại quốc tế, nhất là được hưởng quy chế “tối huệ quốc” trong vấn đề về thuế quan, hàng xuất khẩu vào Mỹ hay để Mỹ tách vấn đề nhân quyền theo giá trị của Mỹ ra khỏi vấn đề quan hệ kinh tế… Bên cạnh những hoạt động vận động hành lang của Chính phủ, các tập đoàn kinh tế, thương mại của các nước cũng chi những khoản không nhỏ (có thể gấp hàng chục, hàng trăm lần Chính phủ) cho các hoạt động vận động hành lang phục vụ lợi ích của chính các tập đoàn, các công ty này ở Mỹ.
Chính vì lợi ích do vận động hành lang mang lại là cực kỳ to lớn nên hiện nay, ngoài các tập đoàn tư bản Mỹ, một số tổ chức phi chính phủ cũng đang có hoạt động vận động hành lang và đáng chú ý là một số tổ chức phản động trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng có những hoạt động mang tính vận động hành lang để tác động vào các chính sách không có lợi cho Việt Nam từ Quốc hội Mỹ. Chẳng hạn tìm cách ngăn cản quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, thông qua đạo luật về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, hay đạo luật về chống bán phá giá cá basa… Tuy nhiên, cũng có những vận động hành lang đại diện của một số công ty Mỹ đã vận động Quốc hội và Tổng thống Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Cuba, thúc đẩy ký hiệp định thương mại với Việt Nam…
Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, hoạt động vận động hành lang đã được các cơ quan lập pháp và hành pháp Mỹ chấp nhận, còn các Chính phủ hay các công ty, doanh nghiệp nước ngoài thì coi đây là một hoạt động tất yếu khi quan hệ với Mỹ. Do đó, muốn gặt hái lợi ích từ chính quyền Mỹ, từ thị trường và từ xã hội Mỹ, thì phải biết vận động hành lang. Không có phương tiện vận động hành lang thì doanh nghiệp trong nước sẽ không có khả năng tiên đoán những hậu quả không lường được, và cũng sẽ không có khả năng trở tay khi bị gây sự từ những nhóm đặc quyền ở Mỹ. Vận động hành lang ở Mỹ là một vấn đề mà nếu không tính đến, cái giá phải trả sẽ rất lớn, từ những thiệt hại cụ thể đến những hệ quả lâu dài hơn. Bên cạnh đó, cần hiểu rõ ý nghĩa của vận động hành lang là luôn gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích trong nền chính trị Mỹ để có thể đưa ra những chính sách phù hợp để áp dụng trong quan hệ thương mại song phương, nhất là qua các vụ tranh chấp thương mại quốc tế. Ra đời và tồn tại trong hơn 200 năm qua, hoạt động vận động hành lang hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ. Hoạt động này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền chính trị Mỹ đến mức, không ít nghị sỹ Hoa Kỳ đã từng phát biểu rằng, thật khó tưởng tượng được sự vắng mặt của các chuyên gia vận động hành lang đối với hoạt động của Quốc hội Hoa Kỳ.
Có thể nhận thấy, vận động hành lang là một hoạt động có hai mặt: một mặt, nó là phương thức có hiệu quả rất lớn để tác động đến hoạt động của Quốc hội, cũng như nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của đại biểu Quốc hội và cũng là một hình thức để giới lập pháp nhận được các thông tin và yêu cầu của một bộ phận trong xã hội. Nhưng, mặt trái của nó là dễ bị các bộ phận khác nhau lợi dụng, tác động trực tiếp vào quá trình lập pháp, uốn hoạt động lập pháp theo hướng có lợi nhất cho quyền lợi cục bộ của mình. Theo khía cạnh đó, vận động hành lang thường được đánh giá là một hiện tượng mờ ám mang tính mua chuộc, không minh bạch. Trong hoạt động vận động hành lang, các nghị sĩ cũng có thể bị các nhóm lợi ích mua chuộc. Khắc phục điểm yếu này, pháp luật phải có các quy định về tính minh bạch, công bằng của hoạt động vận động hành lang. Và quan trọng hơn là trách nhiệm của các nghị sĩ, một nghị sĩ chân chính cần cảm nhận được sức ép từ các cuộc vận động kiểu này để xác định và giữ vững lập trường của mình.
Vận động hành lang sẽ không dẫn đến việc lệch lạc của công tác lập pháp, nếu nó được sử dụng đúng đắn – tức là như một kênh để nắm bắt các nguyện vọng và đòi hỏi của một bộ phận dân cư. Nếu được tổ chức tốt, việc vận động cho sự ra đời hoặc vận động để ngăn cản sự ra đời của luật có thể lại là một yếu tố để phát huy phản biện xã hội, nâng cao tính dân chủ trong xã hội.
Trần Hồng Hạnh, Vụ VĐCXDPL