Về việc Tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp thương mại - một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

Về việc Tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp thương mại - một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị

So với phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thì Trọng tài thương mại có nhiều ưu điểm hơn về tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục, bảo đảm tối đa quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp mà không bị ràng buộc nghiêm ngặt, chặt chẽ bởi thủ tục tố tụng. Theo quy định của pháp luật, trong việc giải quyết tranh chấp thương mại, Trọng tài có sự hỗ trợ rất lớn từ Tòa án để vụ tranh chấp được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện, hiệu quả.
Điều 414 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Tòa án có thẩm quyền đối với 08 loại việc dân sự liên quan đến hoạt động Trọng tài thương mại, đó là: chỉ định, thay đổi Trọng tài viên; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; hủy phán quyết trọng tài; giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; thu thập chứng cứ; triệu tập người làm chứng; đăng ký phán quyết trọng tài; các việc dân sự khác mà pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam có quy định. Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng quy định về thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài và việc thi hành phán quyết trọng tài. Số liệu thống kê gần đây cho thấy, trong tổng số 586 vụ tranh chấp đã được các Trung tâm trọng tài giải quyết thì có 70 vụ cần đến sự hỗ trợ hoặc can thiệp của Tòa án (chiếm tỷ lệ khoảng 8.37%). Còn theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao thì việc thụ lý, giải quyết các yêu cầu liên quan đến trọng tài thương mại của Tòa án là tương đối đồng đều giữa các năm với số lượng các vụ việc phải giải quyết (từ 14 -25 vụ/năm). Bên cạnh đó, một trong những kết quả nổi bật nhất của hoạt động tòa án hỗ trợ trọng tài đó là việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo thống kê của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), Tòa án đã ban hành trên 30 quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình tố tụng trọng tài. Tính từ năm 2011 đến ngày 30/6/2015, các cơ quan thi hành án dân sự đã thụ lý 325 đơn yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài trên tổng số 586 phán quyết trọng tài được ban hành với số tiền phải thi hành gần 6.880.000 USD và 592.000.000.000 đồng. Số lượng phán quyết trọng tài đã được thi hành xong là 180 phán quyết với số tiền gần 3.612.000 USD và 300.000.000.000 (đạt tỷ lệ 60% số lượng phán quyết trọng tài cần thi hành).
Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, mặc dù Tòa án có sự hỗ trợ rất lớn đối với Trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại và đã có những kết quả nhất định, song thực tiễn thực hiện công tác này vẫn còn có nhiều hạn chế, khó khăn, vướng mắc, trong đó, nổi bật là những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, quy định của pháp luật về việc hủy phán quyết trọng tài
Điều 68 Luật Trọng tài thương mại quy định các căn cứ để Tòa án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài, trong đó điểm đ khoản 2 quy định “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Về vấn đề này, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 25/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại quy định: “Phán quyết trọng tài trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử xự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam”. Tuy nhiên, cách giải thích trên của Tòa án nhân dân tối cao còn chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc áp dụng. Cụ thể là chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử xự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam”. Điều này dẫn đến sự lạm dụng hay cách hiểu khác nhau của tòa án trong việc quyết định phán quyết trọng tài vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam để ra quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài.
Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại quy định khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ Điều 68 của Luật này và các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định, không xét xử lại nội dung vụ án mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định này còn nhiều bất cập trong việc xác định giới hạn phạm vi xem xét nội dung vụ tranh chấp của Hội đồng xét đơn của Tòa án. Điều này Luật Trọng tài thương mại chưa giải thích. Do đó, cũng cần phải giải thích rõ để có cách hiểu chung, thống nhất, tránh tình trạng Tòa án xem xét cả nội dung vụ tranh chấp sẽ vi phạm nguyên tắc của tố tụng trọng tài và dẫn đến tình trạng tỷ lệ hủy phán quyết trọng tài của Tòa án ngày càng gia tăng. Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, số lượng phán quyết trọng tài bị hủy đang có xu hướng gia tăng. Trong giai đoạn 2003-2014, với tỷ lệ số vụ tranh chấp có đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chiếm 12% thì 43% trong số này bị hủy. Riêng tỷ lệ hủy phán quyết trọng tài giai đoạn 2011-2014 lên đến 50%. So với các nước trên thế giới thì tỷ lệ hủy này là rất cao. Việc hủy phán quyết trọng tài thiếu căn cứ pháp lý làm giảm niềm tin của các bên tranh chấp vào phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, gây tốn kém và lãng phí cho các bên và trọng tài. Hơn nữa, việc hủy phán quyết trọng tài thiếu căn cứ dẫn đến tình trạng ý thức chấp hành các phán quyết trọng tài của các bên tranh chấp không cao, làm giảm hiệu lực của phán quyết trọng tài. Điều này đã khiến không ít doanh nghiệp lo ngại khi lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài thương mại.
Thứ hai, quy định của pháp luật trọng tài về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Về căn cứ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi các bên tranh chấp có yêu cầu. Tuy nhiên, hiện nay lại chưa có hướng dẫn cụ thể về điều kiện áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, do đó, dẫn đến tình trạng Hội đồng trọng tài và Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời còn theo cách chủ quan, cảm tính.
Khoản 1 Điều 48 Luật Trọng tài thương mại quy định “các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật có liên quan, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự chỉ có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu họ khởi kiện vụ án dân sự. Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trường hợp đương sự chỉ muốn yêu cầu Tòa án áp dụng ngay một biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình mà không muốn khởi kiện, do đó, quy định này đã phản ánh chưa đúng bản chất của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phải đảm bảo tính kịp thời.
Thứ ba, quy định của pháp luật về việc tuyên hủy hay không hủy phán quyết trọng tài
Khoản 10 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định "Quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành", do đó, các bên đương sự không có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc khiếu nại, kiến nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với phán quyết của Tòa án. Thực tế hiện nay có một số quyết định của tòa án hủy phán quyết trọng tài thiếu căn cứ pháp lý nhưng không có cơ chế để xem xét lại theo quyết định của tòa án, do đó đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Thứ tư, về vai trò của quy tắc tố tụng trọng tài trong giải quyết tranh chấp
Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại, trong trường hợp Luật Trọng tài thương mại không quy định thì áp dụng quy tắc tố tụng trọng tài để giải quyết tranh chấp và ban hành phán quyết trọng tài. Thực tiễn tố tụng trọng tài tại Tòa án cho thấy việc thiếu các quy định cụ thể trong quy tắc tố tụng trọng tài cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc một trong các bên tranh chấp yêu cầu Tòa án xem xét hủy phán quyết trọng tài. Điều này, dẫn đến tình trạng tỷ lệ hủy phán quyết trọng tài của Tòa án ngày càng tăng cao.
Thứ năm, về trình độ chuyên môn của Thẩm phán
 Theo Luật Trọng tài thương mại, quyết định hủy phán quyết trọng tài được đưa ra bởi các Thẩm phán, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nhiều Thẩm phán do chưa tiếp xúc nhiều với thực tiễn hoạt động Trọng tài, năng lực xét xử còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nên khi xét xử đã có những quan điểm khác nhau trong chủ trương giải quyết vụ việc tranh chấp, dẫn đến việc kéo dài thời gian giải quyết, gây lãng phí, tốn kém thời gian, tiền bạc của các bên đương sự.
Do đó, để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, khắc phục được những hạn chế, bất cập nêu trên cần phải có các giải pháp để hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi pháp luật về trọng tài, cụ thể là:
Thứ nhất, về các quy định của pháp luật về hủy phán quyết trọng tài
Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại tuy đã giải quyết một số vấn đề còn chưa rõ và cần phải giải thích của Luật trọng tài thương mại trong đó có việc giải thích thuật ngữ liên quan đến căn cứ để hủy phán quyết trọng tài của Tòa án nhân dân, song để hạn chế tình trạng phán quyết của Trọng tài bị hủy cần nghiên cứu quy định cụ thể theo hướng thu hẹp các trường hợp phán quyết của Trọng tài bị hủy, hạn chế sự lạm dụng, tùy tiện từ phía cơ quan nhà nước trong việc tuyên phán quyết trọng tài bị hủy nhằm bảo vệ giá trị pháp lý đối với các quyết định của Trọng tài, quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự và hạn chế các tiêu cực có thể xảy ra.
Thứ hai, về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Như đã trình bày ở trên, với quy định như hiện nay của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vô hình chung đã buộc đương sự (một trong các bên tranh chấp) phải khởi kiện vụ án dân sự ngay cả khi họ không muốn. Do đó, để đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự, trong việc quy định việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cần nghiên cứu xây dựng theo hướng cho phép trong trường hợp khẩn cấp Thẩm phán có thể quyết định áp dụng ngay lập tức các biện pháp khẩn cấp nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của đương sự trước khi khởi kiện vụ án.
Thứ ba, về quy tắc tố tụng trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp
Để hạn chế tình trạng hủy phán quyết trọng tài vì lý do thiếu các quy định cụ thể trong Quy tắc tố tụng trọng tài, các Trung tâm trọng tài cần phải ban hành những quy tắc tố tụng trọng tài chi tiết, đầy đủ để khắc phục những vấn đề phát sinh trong tố tụng trọng tài, hạn chế được các khiếu nại về việc yêu cầu Tòa án xem xét hủy phán quyết trọng tài của một trong các bên tranh chấp.
Thứ tư, về vai trò của các Thẩm phán khi xét xử các vụ việc liên quan đến trọng tài
Xuất phát từ thực tiễn hiện nay khi năng lực của một số Thẩm phán còn hạn chế khi xét xử các vụ việc liên quan đến hoạt động trọng tài, dẫn đến tình trạng đưa ra các quan điểm khác nhau về cùng một vấn đề nên cần thiết phải có một đội ngũ Thẩm phán có trình độ, kiến thức chuyên ngành để thường xuyên đáp ứng việc hỗ trợ trọng tài. Bên cạnh đó, cần tăng cường các chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật trọng tài cho đội ngũ Trọng tài viên, Thẩm phán. Đồng thời, cần phải nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp của trọng tài viên và các Trung tâm trọng tài, xây dựng đội ngũ trọng tài viên có chất lượng và  chuyên nghiệp.
Thứ năm, cần nghiên cứu để áp dụng án lệ trong việc giải quyết tranh chấp của trọng tài
Trong bối cảnh nước ta đang tích cực hội nhập quốc tế thì việc áp dụng án lệ là phương thức hiệu quả để góp phần nâng cao năng lực của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại, trọng tài, bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất trong xét xử, tạo lập tính ổn định, minh bạch của Tòa án. Ngày 28/10/2015, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Việc áp dụng án lệ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo điều kiện cho việc pháp luật được áp dụng thống nhất trong công tác xét xử tại Tòa án. Việc áp dụng án lệ cũng phụ thuộc rất lớn vào kết quả lựa chọn, xác định án lệ của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và kỹ năng, kiến thức của thẩm phán, hội đồng xét xử, hội đồng giải quyết vụ việc dân sự trong việc áp dụng án lệ. Việc áp dụng án lệ trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp sẽ giúp các tranh chấp được giải quyết nhanh chóng và dễ dàng hơn. Do đó, thời gian tới cũng cần nghiên cứu để áp dụng án lệ trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại.
Thứ sáu, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan đến hoạt động trọng tài
Nhằm kịp thời giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong quá trình giải quyết vụ việc trọng tài và thi hành phán quyết của Trọng tài, thời gian tới cần thiết phải tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa Tòa án, Trọng tài và cơ quan thi hành án dân sự. Trên cơ sở đó kiến nghị cần xây dựng và thực hiện Quy chế phối hợp giữa các cơ quan này trong việc giải quyết tranh chấp thương mại để việc giải quyết tranh chấp và thi hành phán quyết trọng tài đạt chất lượng, hiệu quả hơn./.
                                                                                        Ngô Huyền
Tài liệu tham khảo:
- Báo cáo tổng kết 04 năm thi hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010
­- Luật Trọng tài thương mại năm 2010
- Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 25/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại            
- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.