1.1. Khái niệm rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp
Có nhận định cho rằng: “Tốc độ phát triển của startup Việt như vũ bão còn cơ chế chính sách thì chạy mãi vẫn không kịp”. Nhiều doanh nhân trẻ Việt Nam, khi khởi nghiệp cũng cho rằng, vấn đề pháp lý nếu không nắm rõ sẽ dễ gặp phải nhiều rắc rối nhất, đôi khi sẽ trở thành rào cản, cản trở việc khởi nghiệp.
Đa phần, những nhà khởi nghiệp lại không phải là luật sư hay những người hiểu luật, họ thông thường chỉ quan tâm tới ý tưởng kinh doanh, chiến lược phát triển, xây dựng thương hiệu, kêu gọi nhà đầu tư... mà đôi khi quên mất vấn đề pháp lý. Chính vì vậy, để khởi nghiệp thuận lợi, những doanh nhân trẻ cần nhờ các đơn vị tư vấn luật để giúp đỡ trong vấn đề này. Khi khung pháp lý của doanh nghiệp được rõ ràng, các vấn đề pháp lý sẽ không còn là rào cản của doanh nghiệp thì những người khởi nghiệp mới có thể tập trung và yên tâm để thực hiện ý tưởng kinh doanh của mình.
Khi nói đến “rào cản”, chúng ta thường hình dung tới một điều gì đó tiêu cực, cản trở lại sự tiến bộ, phát triển. Trong thực tế, chưa từng xuất hiện định nghĩa thế nào là rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp, qua thực tiễn chúng ta có thể hiều
rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp chính là những yếu tố về mặt pháp lý có thể ngăn cản hoặc kìm hãm các doanh nghiệp trong quá trình khởi nghiệp. Một trong những rào cản kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình khởi nghiệp chính là gánh nặng pháp luật và chưa có quy định pháp luật cụ thể. Tựu trung lại, các
rào cản đó được hiểu là các quy định pháp luật, các chính sách có thể tạo khó khăn trong quá trình khởi nghiệp của các doanh nghiệp trẻ. khiến những doanh nghiệp khởi nghiệp vốn dĩ đã thiếu, yếu đủ thứ sẽ càng gặp khó khăn trong nỗ lực định hướng phát triển.
1.2. Đặc điểm của rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp
Theo một thống kê gần đây, khoảng 90% các startup thất bại và một trong 20 lý do thất bại là rào cản pháp lý. Rào cản pháp lý có các đặc điểm như sau: đó là sự ngăn cản gia nhập thị trường, tăng chi phí kinh doanh, hạn chế cạnh tranh, mở rộng phát triển thị trường, hạn chế sáng tạo hoặc hạn chế huy động nguồn lực.
-
Ngăn cản gia nhập thị trường thường thể hiện dưới hình thức quy định áp đặt phương thức kinh doanh cứng nhắc, hạn chế sáng tạo, việc kinh doanh phải phù hợp với quy hoạch, áp đặt phương thức kinh doanh cứng nhắc…
Ví dụ: Điều kiện thành lập
, cho phép thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo Nghị định số 143/2016/NĐ-CP, Cơ sở giáo dục nghề nghiệp được thành lập, cho phép thành lập khi có đề án thành lập và đáp ứng các điều kiện sau đây:
Phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp Việt Nam; quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi là bộ); quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh). Đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập khi thành lập phải cam kết hoạt động theo cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập do Chính phủ quy định.
-
Tăng chi phí kinh doanh: thể hiện dưới rất nhiều loại quy định, thường đó là yêu cầu mà doanh nghiệp phải bỏ chi phí chỉ để nhằm mục đích tuân thủ pháp luật mà không phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Cụ thể là:
+ Xin giấy phép với thời hạn ngắn, hạn chế, xin giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh;
+ Áp đặt hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu chuẩn kỹ thuật bố trí nhà xưởng,…;
+ Yêu cầu phải có năng lực sản xuất tối thiểu, diện tích tối thiểu, nhân lực tối thiểu;
+ Yêu cầu về năng lực tài chính, vốn;
+ Yêu cầu sở hữu, yêu cầu nhân lực: số lượng tối thiểu, bằng cấp, kinh nghiệm làm việc,..
Ví dụ: về điều kiện thành lập hoặc cho phép thành lập trường trung học (Nghị định số 143/2016/NĐ-CP):
- Có Đề án thành lập trường phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;
- Đề án thành lập trường xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình và nội dung giáo dục; đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị, địa điểm dự kiến xây dựng trường, tổ chức bộ máy, nguồn lực và tài chính; phương hướng chiến lược xây dựng và phát triển nhà trường.
Điều kiện để được cho phép hoạt động giáo dục:
- Có quyết định thành lập hoặc quyết định cho phép thành lập trường;
- Có đất đai, trường sở, cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu hoạt động giáo dục;
- Địa điểm của trường bảo đảm môi trường giáo dục, an toàn cho học sinh, giáo viên, cán bộ và nhân viên.
- Rủi ro cho doanh nghiệp: thường là những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật chưa rõ ràng, không cụ thể hay quy định theo hướng phải được chấp thuận của cơ quan nhà nước để cung cấp dịch vụ (ví dụ: phải được phê duyệt, phải đăng ký vào danh sách được cung cấp dịch vụ,…). Hiện nay có rất nhiều các điều kiện kinh doanh được quy đình bằng các cụm từ rất thiếu rõ ràng, không cụ thể như: “phù hợp”, “thích hợp”, “thuận tiện”, “có đạo đức”, “đủ sức khỏe”… Những quy định tùy như như vậy sẽ trao sự tùy tiện cho cơ quan nhà nước trong việc giải thích và áp dụng pháp luật; theo đó sẽ đẩy doanh nghiệp vào sự rủi ro cao trong việc tuân thủ quy định về điều kiện kinh doanh
Nhiều năm trở lại đây, vấn đề hỗ trợ
doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển đã và đang trở thành một ưu tiên quan trọng ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Về pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp gồm hệ thống pháp luật hỗ trợ khởi nghiệp và một số nhóm biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Hệ thống pháp luật hỗ trợ khởi nghiệp bao gồm 02 loại hình: Các văn bản pháp luật chính thức ở cấp độ luật và các văn bản hướng dẫn thi hành; Các cơ chế, chính sách cụ thể (văn bản điều hành: quyết định và đề án của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chính quyền địa phương).
Một số nhóm biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo: các văn bản pháp luật hiện hành đã nêu rõ các nhóm biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Nhóm các hỗ trợ dành riêng cho doanh nghiệp khởi nghiệp (05 biện pháp) gồm:
- Hỗ trợ tư vấn về sở hữu trí tuệ; khai thác và phát triển tài sản trí tuệ.
- Hỗ trợ thực hiện các thủ tục về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng; thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm mới, mô hình kinh doanh mới.
- Hỗ trợ về ứng dụng, chuyển giao công nghệ.
- Hỗ trợ về đào tạo, thông tin, xúc tiến thương mại, thương mại hóa.
- Hỗ trợ sử dụng cơ sở kỹ thuật, cơ sở ươm tạo, khu làm việc chung.
Nhóm các hỗ trợ chung cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có các doanh nghiệp khởi nghiệp đáp ứng điều kiện (3 nhóm):
- Hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: Hỗ trợ đào tạo khởi sự kinh doanh và quản trị kinh doanh; Hỗ trợ đào tạo nghề; Hỗ trợ đào tạo trực tiếp tại doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nhóm hỗ trợ cho các hộ kinh doanh chuyển sang doanh nghiệp nhỏ và vừa gồm:
- Hỗ trợ tư vấn, hướng dẫn hồ sơ, thủ tục thành lập doanh nghiệp.
- Trình tự, thủ tục đăng ký tư vấn, hướng dẫn miễn phí.
- Hỗ trợ đăng ký doanh nghiệp, công bố thông tin doanh nghiệp.
- Hỗ trợ thẩm định, cấp phép kinh doanh lần đầu.
- Hỗ trợ lệ phí môn bài.
- Hỗ trợ tư vấn, hướng dẫn thủ tục hành chính thuế và chế độ kế toán.
Nhóm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị gồm:
- Hỗ trợ 50% chi phí đối với các khóa đào tạo nâng cao trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất chuyên biệt.
- Hỗ trợ liên kết sản xuất, kinh doanh.
- Hỗ trợ phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường.
- Tư vấn về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng.
- Hỗ trợ thực hiện các thủ tục về sản xuất thử nghiệm, kiểm định, giám định, chứng nhận chất lượng.
Đặc điểm của các rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp
-
Về quy định và chính sách hỗ trợ đối với khởi nghiệp: Nhìn chung, các quy định pháp luật và chính sách hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam còn thiếu đồng bộ, cụ thể và vẫn tồn tại nhiều xung đột, mâu thuẫn. Các quy định chủ yếu còn mang tính chung chung như hỗ trợ về mặt bằng sản xuất, tham gia mua sắm, cung ứng dịch vụ công, hỗ trợ đào tạo… Phần lớn các chính sách này có phạm vi đối tượng rộng, dàn trải với đối tượng được hỗ trợ là gần như toàn bộ các doanh nghiệp nhỏ và vừa mà chưa có sự định hướng riêng cho nhóm đối tượng đặc thù, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp.
Mặc dù khi cụ thể hóa các quy định, hướng dẫn để triển khai hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp trên địa bàn các địa phương đã rõ ràng hơn, song phần lớn các quy định, hướng dẫn vẫn chưa đảm bảo được yêu cầu về tính cụ thể, đặc biệt là đối với việc thu hẹp, tập trung vào các nhóm đối tượng nhất định. Không ít trường hợp, các quy định, hướng dẫn của các địa phương chỉ đơn thuần là lựa chọn và nhắc lại một số nội dung của Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”.
Đề án ban hành theo Quyết định số 844/QĐ-TTg gần như là văn bản duy nhất đặt ra các mục tiêu cụ thể mang tính định lượng về phát triển Doanh nghiệp khởi nghiệp với các mục tiêu ngắn hạn và trung hạn. Tuy nhiên, tương tự như phần lớn các đề án khác, các mục tiêu này chỉ mang tính định hướng, không ràng buộc trách nhiệm đối với bất kỳ cơ quan, tổ chức nào, cũng không có biện pháp xử lý nào trong trường hợp không đạt được mục tiêu.
Bên cạnh đó, mặc dù hệ thống quy định và chính sách đã và đang ngày càng được hoàn thiện, nhiều nội dung cần hướng dẫn để cụ thể vẫn chưa có, dẫn đến tình trạng khó triển khai các quy định và chính sách trên thực tế.
Về các biện pháp hỗ trợ: Nhìn chung, các văn bản chính sách về khởi nghiệp đều nhắc đến các biện pháp hỗ trợ thuộc 09 nhóm chính. Về phạm vi, có những nội dung chỉ đề cập trong Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến 2025” do là vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền của trung ương (ví dụ các vấn đề về ưu đãi thuế), có những vấn đề về chi tiết mang tính thủ tục, thường chỉ nêu trong chính sách của các địa phương (ví dụ cải cách hành chính, tư vấn hỗ trợ về thủ tục). Về nội dung, các nhóm hỗ trợ được đề cập trong Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” cũng như ở các địa phương tương tự với các biện pháp hỗ trợ Doanh nghiệp khởi nghiệp mà nhiều nước đang áp dụng, bao gồm cả các nước được đánh giá là có hệ sinh thái hiệu quả cho Doanh nghiệp khởi nghiệp như: Ấn Độ, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc.
Về tính khả thi và hiệu quả hoạt động hỗ trợ: Về cơ bản, hệ thống quy định và chính sách hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp đang dần được hoàn thiện, tuy nhiên tính khả thi của các quy định và chính sách này còn rất hạn chế. Cụ thể:
- Về định mức hỗ trợ cho các Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đã được quy định khá rõ trong các nghị định, tuy nhiên hai vấn đề ảnh hưởng tới tính khả thi của các chính sách hỗ trợ tài chính, đầu tư là: Tiêu chí lựa chọn và sự phối hợp của các cơ quan nhà nước vẫn còn rất hạn chế.
- Mặc dù Cổng thông tin quốc gia về khởi nghiệp đã chính thức ra đời nhưng các nội dung, thông tin và tính liên kết đến các cổng thông tin liên quan còn hạn chế. Vẫn thiếu các thông tin liên quan để kết nối các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và các nhà khởi nghiệp. Một số hoạt động như TechFest 2017 đã được triển khai và đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên các hỗ trợ thực chất cho Doanh nghiệp khởi nghiệp còn ít, vì hạn chế về kinh phí.
- Hướng dẫn cụ thể về hỗ trợ kinh phí cho hoạt động khởi nghiệp từ nguồn
ngân sách nhà nước chưa được ban hành, vì vậy các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp từ các quỹ có nguồn gốc ngân sách gần như chưa thể triển khai.
- Các bộ, ban, ngành, tổ chức liên quan được giao nhiệm vụ xây dựng các kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hàng năm và 5 năm trên cơ sở Đề án cũng chưa cụ thể về hoạt động triển khai.
- Ở cấp địa phương, việc triển khai trên thực tế mới ở bước đầu, chưa thể đánh giá được kết quả. Đó là chưa kể tới, một số địa phương kế hoạch triển khai khá sơ sài, nhắc lại các hoạt động của Đề án là chủ yếu, không có biện pháp cụ thể. Ở cả hai cấp trung ương và địa phương, việc thực thi các văn bản chính sách không có giá trị bắt buộc từ góc độ pháp luật như thế này thường sẽ phụ thuộc vào quyết tâm của đơn vị chủ trì và sự tích cực, chủ động, nhiệt tình và năng lực của các đơn vị thừa hành. Kinh nghiệm từ nhiều Đề án khác cho thấy, hiệu quả thực tế của các chính sách này rất khác biệt ở các địa phương khác nhau.
Nhìn chung, quy định, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp và việc triển khai các quy định, chính sách này hiện đang có những bất cập, hạn chế sau:
- Các quy định và chính sách hiện nay còn thiếu, chưa đồng bộ và còn những mâu thuẫn; Thiếu các quy định liên quan đến khung pháp lý cho hoạt động của các tổ chức hỗ trợ tài chính cho hoạt động khởi nghiệp, đó là quỹ đầu tư mạo hiểm và đầu tư “thiên thần”.
- Về cơ bản, các cơ quan nhà nước có liên quan chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn hoạt động khởi nghiệp, nhất là về nhận thức, kỹ năng của cán bộ, khả năng đánh giá, giám sát.
- Hoạt động trợ giúp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo nói riêng vẫn chưa phát huy được tác dụng, còn chồng chéo và phân tán, chưa có trọng tâm, trọng điểm. Tỷ lệ tiếp cận nguồn vốn tín dụng thấp, quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động kém hiệu quả.
- Hỗ trợ từ phía cơ quan nhà nước cho khởi nghiệp còn hạn chế và dàn trải, chồng chéo, kém hiệu quả. Trong khi đó, thực tế cho thấy, phần lớn các hoạt động hỗ trợ từ khu vực tư nhân đem lại hiệu quả tốt đối với cả hai phía là người hỗ trợ và doanh nghiệp khởi nghiệp mặc dù khung pháp luật cho hoạt động này vẫn còn thiếu và nhiều bất cập.
- Một số hạn chế từ phía các doanh nghiệp khởi nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng được tiếp nhận các hỗ trợ, ví dụ như kỹ năng quản trị, điều hành kinh doanh, xúc tiến, quảng bá phát triển. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng kém phát triển, thủ tục hành chính rườm rà cũng là những rào cản cho sự phát triển của hoạt động khởi nghiệp.
Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế trong ban hành cơ chế, chính sách và quá trình triển khai thực hiện hỗ trợ đối với hoạt động khởi nghiệp bao gồm:
- Năng lực của các cơ quan soạn thảo, tư vấn các quy định và chính sách còn hạn chế dẫn đến nhiều văn bản pháp luật và chính sách được ban hành thiếu tính khoa học, chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng và thiếu tính khả thi (chưa tạo điều kiện để lựa chọn đúng đối tượng hỗ trợ như mục tiêu đề ra).
- Thiếu sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình dự thảo, xây dựng quy định và chính sách, đặc biệt là các đối tượng trực tiếp như các Doanh nghiệp khởi sự, các hiệp hội, các nhà đầu tư.
- Thiếu sự giám sát, đánh giá đối với các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp, đặc biệt là từ các nguồn của Nhà nước.
- Thiếu thông tin, thiếu chuẩn bị của nhiều nhà khởi nghiệp để nắm bắt, tiếp nhận các cơ hội, ưu đãi từ chính sách.
1.3. Nhận diện các rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp và tác động tiêu cực của rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp
1.3.1. Vấn đề thủ tục hành chính
Việc cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam tuy có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa như kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp nói chung và cộng đồng startup nói riêng. Mặc dù các Bộ đã có nhiều cố gắng rà soát, đề xuất phương án đơn giản, cắt giảm điều kiện kinh doanh, tuy nhiên tỷ lệ cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục kiểm tra chuyên ngành, điều kiện kinh doanh chưa cao, quy định về điều kiện kinh doanh vẫn đang là rào cản lớn đến hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.
Khi bắt đầu khởi nghiệp, start-up cần chuẩn bị các giấy tờ liên quan đến ngành nghề, vốn, đáp ứng một hoặc nhiều điều kiện kinh doanh. Đối với một số lĩnh vực kinh doanh, các giấy phép chuyên ngành (giấy phép con) là điều kiện bắt buộc. Tùy vào loại hình doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh, kế hoạch phát triển doanh nghiệp mà người đứng đầu doanh nghiệp nên chuẩn bị các thủ tục hành chính, giấy phép đặc thù trong ngành kinh doanh của mình. Các rào cản về thủ tục hành chính (điều kiện kinh doanh, giấy phép con, khó thoái vốn) vẫn là những nguyên nhân lớn cản trở quá trình khởi nghiệp tại Việt Nam đặc biệt trong thanh niên. Nhiều thủ tục hành chính đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo khiến doanh nghiệp vuột mất nhiều cơ hội.
Các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thường hình thành nhanh chóng, thay đổi vốn góp liên tục, thoái vốn nhanh. Nhiều doanh nghiệp chỉ hoạt động trong một giai đoạn nhất định để đáp ứng nhu cầu của thị trường, của nền kinh tế. Sau đó, doanh nghiệp có thể giải thể và thành lập mới, đầu tư theo hướng khác. Chính vì vậy, thủ tục hành chính của Việt Nam vẫn còn phức tạp, chồng chéo, mất thời gian ngay từ khâu thành lập doanh nghiệp đến các hoạt động về sau khiến nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo mất đi cơ hội. Từ đó, muốn thành lập, nắm bắt thời cơ, nhanh chóng đi vào hoạt động thì doanh nghiệp buộc phải tìm cách đối phó. Điều này dẫn đến việc doanh nghiệp khởi nghiệp Việt đăng kí thành lập doanh nghiệp ở quốc gia khác đã không còn là trường hợp đơn lẻ.
Rất khó để phủ nhận rằng vấn đề về thủ tục hành chính không phải là một rào cản đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp. Một số dẫn chứng điển hình về vấn đề này như sau:
- Thành lập doanh nghiệp & các thủ tục đăng ký kinh doanh, đầu tư: Đây là thủ tục pháp lý đầu tiên mà doanh nghiệp nào cũng cần thực hiện để được công nhận và được phép hoạt động kinh doanh. Trên thực tế, không chỉ doanh nghiệp khởi nghiệp mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có thể vấp phải một số vướng mắc trong khâu này như hồ sơ đăng ký không có sự hướng dẫn cụ thể về nội dung và hình thức; thủ tục rườm rà, gây mất thời gian; khâu xử lý hồ sơ của chuyên viên còn chậm dẫn đến chậm ngày trả kết quả so với luật định gây ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh.
- Quy định về thủ tục, điều kiện xuất nhập khẩu còn nhiều chồng chéo gây mất thời gian, đặc biệt là vấn đề kiểm tra chuyên ngành. Riêng trong lĩnh vực nhập khẩu, các doanh nghiệp tiêu tốn thêm 15.000 tỷ đồng chi phí kiểm tra chuyên ngành mỗi năm
[1], vượt ra khỏi khả năng của nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp thường rất khó khăn về vấn đề vốn. Có thể lấy ví dụ đối với việc nhập khẩu mặt hàng sữa, mặt hàng này vừa phải thực hiện kiểm tra chuyên ngành về an toàn vệ sinh thực phẩm theo chính sách quản lý của Bộ Y tế, vừa phải thực hiện yêu cầu kiểm tra chuyên ngành về kiểm dịch động vật. Việc thực hiện tới hai thủ tục kiểm tra chuyên ngành tại hai cơ quan khác nhau khiến doanh nghiệp tốn thêm thời gian, chi phí bởi các sản phẩm sữa nhập khẩu đã thông qua chế biến, xử lý nhiệt không thể mang theo nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh. Do đó, việc yêu cầu kiểm tra chuyên ngành về kiểm dịch động vật là không cần thiết
[2].
- Quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện:
Hiện nay có tất cả 5.719 điều kiện kinh doanh, thuộc 243 ngành nghề được quy định bởi Luật Đầu tư. Trong đó, tồn tại nhiều quy định điều kiện kinh doanh về một số ngành nghề chưa thực sự phù hợp và là rào cản đối với doanh nghiệp khởi nghiệp. Việc đặt ra các quy định về điều kiện kinh doanh không phù hợp sẽ làm giảm cạnh tranh thị trường vì tạo nên các rào cản đối với các nhà đầu tư tiềm năng muốn gia nhập thị trường, dễ dẫn tới độc quyền và ảnh hưởng xấu tới người dùng, hạn chế sáng tạo bởi các doanh nghiệp phải buộc đi theo lối mòn. Đồng thời, để được kinh doanh các ngành nghề có điều kiện, doanh nghiệp phải xin cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận, … ảnh hưởng không nhỏ tới thời gian và chi phí cũng như các cơ hội kinh doanh bởi thủ tục xin cấp các loại giấy tờ này không đơn giản như phân tích ở trên.
1.3.2. Vấn đề huy động vốn
Vốn là yếu tố quan trọng bậc nhất đối với một doanh nghiệp trong quá trình khởi nghiệp và cũng là yếu điểm lớn nhất đối với một nhà khởi nghiệp. Để giải quyết khó khăn về vốn, các cá nhân và doanh nghiệp khởi nghiệp có thể tìm đến các nguồn đầu tư từ bên ngoài như hỗ trợ từ người thân, các quỹ đầu tư hay nguồn vốn từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Rào cản lớn nhất trong khía cạnh này là Việt Nam chưa có quy trình pháp lý hay quy định nào về việc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào và rút vốn ra khỏi các doanh nghiệp khởi nghiệp nên nhà đầu tư khá e ngại trong vấn đề bảo toàn nguồn đầu tư cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp.
Hơn nữa, các quy định về cấp tín dụng của Việt Nam rất chặt chẽ từ hồ sơ đánh giá năng lực tài chính đến yêu cầu tài sản thế chấp. Trong khi đó, các chủ thể khởi nghiệp thường thiếu tài sản đảm bảo vàhồ sơ tài sản, đồng thời còn thiếu nhiều yếu tố khác để đảm bảo năng lực vay và hoàn trả nợ như năng lực quản lý; phương án kinh doanh rõ ràng; thông tin tài chính...
1.3.3. Vấn đề thực hiện nghĩa vụ thuế
Về khía cạnh này, khó khăn đối với các nhà khởi nghiệp thường nằm ở các điểm mấu chốt sau:
- Thứ nhất, hệ thống các văn bản về thuế của Việt Nam hiện nay bao gồm gần 100 văn bản hướng dẫn
[3]dàn trải ở nhiều thông tư, nghị định khiến doanh nghiệp lúng túng trong việc áp dụng luật thuế. Trong khi đó, đa phần các chủ thể khởi nghiệp đều là doanh nghiệp với quy mô không lớn, không có nhiều thời gian cũng như nguồn lực dành cho bộ phận kế toán làm việc chuyên sâu và bài bản. Hệ quả dẫn đến có thể là sự chậm trễ thực hiện nghĩa vụ thuế và các khoản phạt chậm trả thuế.
- Thứ hai, pháp luật thuế không có sự phân biệt chính sách thuế giữa chủ thể khởi nghiệp và chủ thể thông thường. Các ưu đãi về thuế chưa đến được với phần lớn doanh nghiệp khởi nghiệp bởi các tiêu chí để hưởng ưu đãi còn quá khó để đáp ứng, trong khi đó có nhiều khoản thuế lớn đặt gánh nặng tài chính lên các doanh nghiệp khởi nghiệp.
1.3.4. Vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ
Theo đánh giá của các chuyên gia,100% giá trị của các công ty startup là dựa vào sở hữu trí tuệ, cụ thể là các tài sản vô hình bao gồm ý tưởng kinh doanh, thương hiệu hay công thức sản xuất,...
Tuy nhiên, để biến đó thành tài sản cố định vô hình (tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị của nó và do doanh nghiệp nắm giữ) làm cơ sở đàm phán với nhà đầu tư để huy động vốn hoặc cho các mục đích khác, việc định giá cho tài sản trí tuệ là điều không dễ dàng với các nhà khởi nghiệp.
Bên cạnh đó, thủ tục đăng ký sở hữu trí tuệ không đơn giản, cộng thêm chi phí không nhỏ, thời gian cấp phép, cấp bằng đối với sáng chế, nhãn hiệu khá dài cũng ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp. Từ đó dẫn đến tâm lý e ngại và không quan tâm đúng mức đến việc đăng ký bảo hộ các tài sản sở hữu trí tuệ. Điều này có thể đẩy chủ thể khởi nghiệp đến các cáo buộc cạnh tranh không lành mạnh vì sử dụng các chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, hay sáng chế đã được bảo hộ của chủ thể khác, …
1.3.5. Vấn đề quản lý, sử dụng đất đai
Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp có nhu cầu sử dụng đất, khó khăn về giải phóng mặt bằng, cấp phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… là những vấn đề thực sự nan giải. Nguyên nhân là do các quy định pháp luật về đất đai chưa phù hợp với nhu cầu sử dụng đất với diện tích lớn để triển khai dự án đầu tư, khởi nghiệp quy mô lớn.
Các quy định của pháp luật đất đai về thu hồi đất và tính giá đất khá rườm rà, phức tạp, gây khó khăn không nhỏ về chi phí và thời gian cho các chủ thể khởi nghiệp có nhu cầu sử dụng đất.
1.3.6. Vấn đề hình sự hóa các quan hệ kinh tế
Theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Hình sự 2015, người có hành vi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông có thể bị coi là tội phạm kinh tế với hình phạt là phạt tiền hoặc phạt tù. Quy định này làm chùn bước các chủ thể khởi nghiệp có cách thức sản xuất và cung cấp dịch vụ hiện đại trên nền tảng tiến bộ công nghệ đang bùng nổ hiện nay. Dù quy định này đã bị bãi bỏ bởi Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, song vẫn có thể gây tâm lý e dè khởi nghiệp trong lĩnh vực này bởi suy nghĩ Nhà nước có sự “để tâm đặc biệt” đến các quan hệ kinh doanh trong lĩnh vực này và chưa có sự đảm bảo pháp luật sẽ không thay đổi.
Ngoài ra, còn rất nhiều hành vi khác bị coi là cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật hình sự hiện nay. Ví dụ trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ mà thông thường các chủ thể khởi nghiệp chưa có điều kiện và thời gian quan tâm đúng mức như phân tích tại Mục 4, các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp bị coi là tội phạm hình sự theo Điều 225, 226.
Việc hình sự hóa các quan hệ kinh tế khiến nhiều doanh nghiệp, cá nhân khởi nghiệp không dám ‘mạnh tay’ thực hiện các hoạt động kinh doanh, phát triển công ty ngay tại Việt Nam, gây lãng phí nguồn lực cho nền kinh tế.
1.3.7. Thực tế hoạt động hỗ trợ của các tổ chức nhà nước & hiệp hội nghề nghiệp
Một thực tế hiện nay là hoạt động hỗ trợ pháp lý và vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp bởi các tổ chức nhà nước - nghề nghiệp và quỹ hỗ trợ doanh nghiệp chưa phát huy hiệu quả thực sự và chưa tiếp cận được hết các đối tượng có nhu cầu.
Bên cạnh đó, phương thức hỗ trợ chưa thực sự tinh gọn và nặng về thủ tục hành chính theo cơ chế xin – cho, gây tâm lý e ngại cho các chủ thể có nhu cầu tiếp cận hỗ trợ của Nhà nước.