1. Thực trạng hiện nay về công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật
1.1. Kết quả đạt được
Theo Báo cáo của Chính phủ, năm 2017, với chức năng là cơ quan giúp Chính phủ chủ trì công tác quản lý Nhà nước về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang thường xuyên giúp Chính phủ tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giới thiệu, tập huấn về Hiến pháp. Tổ chức rà soát, lập danh mục đề xuất văn bản quy phạm pháp luật cần bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013. Tổ chức xây dựng các dự án luật, pháp lệnh để thi hành Hiến pháp. Thực hiện việc phối hợp trong quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương cũng đã tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật, kịp thời phản ứng chính sách, giải quyết các vấn đề thực tiễn phát sinh trong phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương, bảo đảm phù hợp với nội dung Hiến pháp năm 2013.
Ngoài ra, Bộ Tư pháp tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật. Bộ đã tiếp tục thực hiện hiệu quả các quy chế, chương trình phối hợp đã ký với các cơ quan và tiếp tục ký kết, triển khai các quy chế phối hợp với các Bộ, ngành khác
[1] trong các lĩnh vực như kiểm tra văn bản với xây dựng văn bản và phổ biến, giáo dục pháp luật.
Một trong những hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp là thực hiện công tác theo dõi tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, Bộ Tư pháp đã thường xuyên đôn đốc, tổ chức làm việc với các Bộ, ngành nợ đọng nhiều văn bản; tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các giải pháp tăng cường trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản. Nhờ đó, tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh đã giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều năm gần đây, đặc biệt, không còn văn bản nợ đọng thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Trong thời gian quan, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong hậu kiểm xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã tiến hành kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, ngành, địa phương và văn bản do Bộ Tư pháp ban hành và đã phát hiện xử lý kịp thời những văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Ngoài những kết quả đạt được kể trên, thì kết quả chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật được thể hiện chủ yếu ở hai nội dung sau:
1.1.1. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật trong việc tuân thủ một số quy định mới của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015:
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về pháp luật, ngay sau khi Luật năm 2015 có hiệu lực, Bộ Tư pháp đã giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc tổ chức việc ban hành văn bản quy định chi tiết và văn bản chỉ đạo, đôn đốc thi hành như ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tham mưa Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch, Chỉ thị triển khai thi hành Luật và các văn bản chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật năm 2015 trong phạm vi quản lý của mình .
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của mình được giao trong Luật năm 2015, Bộ Tư pháp đã có những biện pháp cứng rắn đối với từng khâu trong quá trình xây dựng văn bản nên nhìn chung ở trung ương, địa phương đã tuân thủ một các nghiêm ngặt các quy định của Luật cũng như các biện pháp quản lý của Bộ Tư pháp. Các bộ, cơ quan ngang bộ đã thực hiện tương đối đầy đủ các bước của quy tŕnh lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định như tổng kết thi hành pháp luật, khảo sát, nghiên cứu lý luận để xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách; tổ chức lấy ý kiến; tiếp thu góp ý của các cơ quan, tổ chức và ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp. Ở địa phương, tŕnh tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh đang từng bước được thực hiện theo đúng quy định mới của Luật năm 2015. Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND tỉnh tŕnh th́ trước khi tŕnh Thường trực HĐND tỉnh xem xét, chấp thuận đề nghị, cơ quan lập đề nghị đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo quy định của Luật năm 2015, gửi Sở Tư pháp thẩm định và tŕnh UBND xem xét, thông qua chính sách.
- Đối với quy định về lấy ý kiến đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật: về cơ bản, các quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đều đã được các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện. Các đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đều được tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, các cơ quan, tổ chức có liên quan với nhiều h́nh thức phù hợp. Việc đăng tải công khai các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên các Cổng thông tin, Trang thông tin điện tử để lấy ý kiến Nhân dân, doanh nghiệp được thực hiện tương đối nghiêm túc. Ở địa phương, đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh, các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh đều được gửi lấy ý kiến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (trường hợp có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp).
- Đối với quy định về thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định: trong năm 2017 (tính đến ngày 30/12/2017), Bộ Tư pháp đã thẩm định 50 đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ theo đúng quy định của Luật năm 2015. Các báo cáo thẩm định có lập luận xác đáng, trong đó tập trung vào đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật... của nội dung chính sách trong đề nghị. Đặc biệt, thực hiện thẩm quyền được Luật năm 2015 giao, Bộ Tư pháp đã trả lại hồ sơ và yêu cầu cơ quan lập đề nghị chuẩn bị lại đối với các đề nghị xây dựng văn bản không đủ điều kiện tŕnh Chính phủ. Thông qua công tác thẩm định, ý thức kỷ luật, kỷ cương của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước được nâng cao.
Chất lượng công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được nâng cao, chú trọng vào tính đồng bộ, thống nhất và đặc biệt là tính khả thi của văn bản. Toàn ngành Tư pháp đã tổ chức thẩm định
9.988 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (giảm gần 16% so với năm 2016), trong đó Tổ chức Pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã thẩm định
932 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các Sở Tư pháp thẩm định
5.088 dự thảo, các Phòng Tư pháp thẩm định
3.728 dự thảo. Riêng Bộ Tư pháp đã thẩm định
240 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, trong đó đã bảo đảm chất lượng và đẩy nhanh tiến độ thẩm định chùm nghị định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các Bộ, ngành. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng đã thẩm định
50 đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ; các Sở Tư pháp thẩm định
272 đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
Công tác tổ chức thi hành Luật năm 2015 đã được tiến hành kịp thời, nghiêm túc từ trung ương đến địa phương; các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành một hệ thống đồng bộ các văn bản quy định chi tiết và các văn bản chỉ đạo, đôn đốc thi hành Luật. Do vậy, đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật về cơ bản nắm được tinh thần và nội dung mới của Luật năm 2015.
- Luật năm 2015 đã tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành ở trung ương và địa phương về ư nghĩa, vai tṛ của công tác xây dựng pháp luật, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động xây dựng pháp luật, góp phần đưa công tác xây dựng pháp luật ngày càng đi vào nền nếp.
- Các bộ, ngành, địa phương đã tuân thủ và thực hiện tương đối nghiêm quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP như việc chuẩn bị hồ sơ tŕnh, bảo đảm thời hạn tŕnh, tuân thủ thể thức, kỹ thuật tŕnh bày văn bản; quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản, việc đăng Công báo, đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật...
- Chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được nâng cao; nội dung của văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính hợp hiến, cơ bản bảo đảm tính hợp pháp và tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đa số văn bản bảo đảm tính khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Ở địa phương, t́nh trạng sao chép quy định của văn bản của cơ quan nhà nước ở trung ương đã được hạn chế; số lượng văn bản quy phạm pháp luật do cấp huyện, cấp xă ban hành giảm đáng kể. Điều đó chứng tỏ các quy định của Luật năm 2015 bắt đầu phát huy tác dụng và bước đầu tạo sự chuyển biến mới, tích cực trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên phạm vi cả nước.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp tiếp tục theo dõi sát sao tình hình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, kịp thời hướng dẫn xử lý các vướng mắc phát sinh; đã có báo cáo với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện Luật, trong đó đề xuất nhiều giải pháp thực hiện các quy định mới của Luật và dự kiến sửa đổi, bổ sung Luật
1.1.2. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật trong việc phổ biến, tập huấn, hướng dẫn thống nhất chuyên môn, nghiệp vụ trên toàn quốc
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của ḿnh, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp các cơ quan có liên quan tổ chức các Hội nghị phổ biến quán triệt các văn bản về xây dựng pháp luật, đặc biệt là quán triệt thực hiện, Hội nghị tập tuấn chuyên sâu Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 tại ba miền Bắc, Trung, Nam cho cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật ở các bộ, ngành, địa phương.
Cùng với việc quán triệt những định hướng lớn trong xây dựng pháp luật Bộ Tư pháp tổ chức xây dựng các Sổ tay, các cẩm nang về xây dựng pháp luật như: kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, kỹ năng thẩm định, kỹ năng đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, Bộ Tư pháp tổ chức các cuộc tập huấn các kỹ năng nêu trên. Trong năm 2016 và năm 2017, Bộ Tư pháp đã tổ chức 08 lớp bồi dưỡng theo chuyên đề nhằm cung cấp các kỹ năng cần thiết trong công tác xây dựng pháp luật như kỹ năng đánh giá tác động của chính sách, soạn thảo, thẩm định; kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật...
Nhận thức được tầm quan trọng trong vai trò quản lý nhà nước của ḿnh và để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của mình về công tác xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã phát triển những cánh tay nối dài của ḿnh tại các Bộ, ngành là các Vụ pháp chế và các Sở Tư pháp tại các tỉnh thành, bộ phận pháp chế tại các cơ quan chuyên môn trong việc triển khai, đôn đốc thực hiện, có những lớp đào tạo giảng viên nguồn để về đào tạo tại cơ quan đơn vị ḿnh tập huấn, đào tạo tại chỗ để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực xây dựng pháp luật cho đội ngũ công chức. Đội ngũ những người làm công tác pháp chế và phổ biến, giáo dục pháp luật đã từng bước được củng cố, kiện toàn. Tính đến đầu năm 2017, số người làm công tác pháp chế ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là 2.708 người; ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là 2.163 người. Tổng số báo cáo viên pháp luật của Trung ương và địa phương là 23.992 người.
1.2. Tồn tại, hạn chế
Một là, thể chế quy định về công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật còn thiếu và chưa rõ, chủ yếu là thông qua Luật năm 2015 và nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp. Tham khao kinh nghiệm của Canada, thì hiện nay trong hệ thống pháp luật của Canada cũng không quy định rõ ràng về công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật mà cũng được quy định tản mạn tại nhiều văn bản.
Hai là, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật và làm công tác xây dựng pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương còn thiếu so với nhu cầu, khối lượng công việc được giao; năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất là khả năng phân tích, dự báo, xây dựng chính sách, kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, việc tham mưu cho lãnh đạo đôi khi chưa đúng, thậm chí còn cứng nhắc, máy móc.
Ba là, chất lượng công tác phổ biến, tập huấn của Bộ Tư pháp và của một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đặt ra, vẫn còn tình trạng chạy theo số lượng để bảo đảm hoàn thành kế hoạch; việc biên soạn, phát hành tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng, ban hành, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp còn chưa kịp thời.
Bốn là, Việc bố trí các đoàn kiểm tra về công tác xây dựng pháp luật tại các Bộ, ngành địa phương còn hạn chế. Việc tổ chức các đoàn kiểm tra riêng biệt về công tác xây dựng pháp luật là vô cùng khó khăn, chủ yêu là các đoàn kiểm tra liên ngành, kết hợp kiểm tra nhiều lĩnh vực nên khó tập trung tháo gỡ được khó khăn, vướng mắc trong công tác xây dựng pháp luật.
Năm là, cơ chế phối hợp liên ngành trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: việc áp dụng các phương thức để huy động sự tham gia phối hợp của các cơ quan còn chưa đa dạng, phong phú, nội dung phối hợp còn hình thức, chiếu lệ, mang tính hình thức. Trách nhiệm giải trình, tiếp thu của cơ quan đề nghị phối hợp đối với những ý kiến tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa được thực hiện nghiêm túc, nhiều trường hợp không tiếp thu nhưng cũng không có giải trình phù hợp. Do vậy, chưa khuyến khích, huy động được sự tích cực tham gia phối hợp của các cơ quan có liên quan.
Sáu là, chế độ cho cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật còn hạn chế, phương tiện, hạ tầng kỹ thuật khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ thông tin phục vụ hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp còn nghèo nàn và chưa được quan tâm đúng mức. Có thể nói kinh phí dành cho công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật chưa phản ánh đúng tính chất phức tạp của hoạt động bảo đảm sự thống nhất trong công tác xây dựng pháp luật trên toàn quốc, chưa phù hợp với thực tiễn, khó đáp ứng được yêu cầu của thời đại xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thượng tôn pháp luật.
Ngoài ra, Công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp còn có những tồn tại, hạn chế trong một số hoạt động như:
- Công tác quản lý nhà nước chưa đạt kết quả tốt khi mà thực tế có những văn bản luật ban hành đã trở nên lạc lõng với đời sống thực tế. Thậm chí có Luật vừa ban hành, chưa có hiệu lực thi hành đã phát hiện có những điểm bất hợp lý, không khả thi và bị đối tượng chịu sự tác động phản ứng lại. Cũng có Luật ban hành rồi nhưng do các điều khoản trong luật khá chung chung, nhiều nội dung không thi hành được do thiếu các văn bản dưới luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.
- Còn thiếu sự kết nối, hỗ trợ chặt chẽ giữa công tác tuyên truyền, phổ biến, giới thiệu, tập huấn về nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp năm 2013 với hoạt động rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo Hiến pháp năm 2013. Công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong việc cập nhật kết quả rà soát và xử lý văn bản còn chậm. Vẫn còn dự án luật rút ra khỏi Chương trình hoặc lùi thời hạn trình. Chất lượng chuẩn bị một số dự án luật còn chưa cao. Tình trạng nợ ban hành văn bản quy định chi tiết cơ bản đã được khắc phục nhưng chưa triệt để, số văn bản nợ ban hành đến nay vẫn còn 13
[2] văn bản. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa kịp thời, chưa sát với nhu cầu của đối tượng liên quan và hướng khắc phục. Xem xét, xử lý trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc chưa ban hành, ban hành chậm, thậm chí ban hành các văn bản trái luật.
- Chất lượng một số VBQPPL chưa cao
[3], số văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền được phát hiện tăng cao so với năm 2016 (tăng 346 văn bản). Nhiều hồ sơ gửi thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định còn sơ sài, không đủ thành phần theo quy định.
- Việc tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở nhiều Bộ, ngành, địa phương còn mang tính hình thức, không phát hiện được văn bản sai sót; chưa kịp thời kiểm tra, chưa theo kịp được tiến độ ban hành văn bản. Một số văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền đã có Kết luận kiểm tra và đôn đốc xử lý nhưng vẫn chưa được tiến hành xử lý hoặc xử lý chưa triệt để, chưa đúng hình thức và thời hạn theo quy định. Kết quả xử lý văn bản sau rà soát còn thấp.
- Tình trạng chậm hướng dẫn nghiệp vụ, chuyên môn, trả lời kiến nghị của các đơn vị vẫn còn, địa phương phải xin hướng dẫn nhiều lần; có trường hợp nội dung hướng dẫn, trả lời còn chung chung.
- Việc kiểm tra công tác ở địa phương vẫn còn tình trạng chồng chéo về nội dung, địa bàn; tổ chức các hội nghị, hội thảo còn tập trung nhiều vào những tháng cuối năm, đã ảnh hưởng đến thời gian giải quyết công việc chung. Chưa có nhiều cải tiến đáng kể trong công tác báo cáo, thống kê; còn tình trạng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương báo cáo quá nhiều.
1.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên
1.3.1. Về khách quan
- Thể chế pháp luật quy định về quản lý Nhà nước về xây dựng pháp luật còn tản mạn, chưa được quy định cụ thể, thống nhất cũng gây khó khăn cho Bộ Tư pháp là cơ quan chủ trì, đầu mối giúp Chính phủ trong quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Cơ chế phối hợp trong việc thực hiện việc quản lý Nhà nước về xây dựng pháp luật chưa có quy định ràng buộc.
- Đội ngũ công chức làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước về xây dựng pháp luật của Bộ, Ngành còn thiếu về số lượng, có mặt hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Tổ chức pháp chế chưa được kiện toàn theo Nghị định số 55/2011/NĐ-CP; có những tổ chức pháp chế đã được thành lập lại bị giải thể, sáp nhập vào các đơn vị khác. Đội ngũ cán bộ pháp chế còn mỏng, kiêm nhiệm nhiều việc; một số địa phương sử dụng biên chế pháp chế để tuyển dụng cho những vị trí việc làm khác; tỷ lệ cán bộ pháp chế ở các địa phương chưa có trình độ cử nhân luật còn cao. Đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã thường xuyên thay đổi, khó bảo đảm sự ổn định, chất lượng chuyên môn.
- Điều kiện bảo đảm về cơ sở vật chất, kinh phí để thực hiện nhiệm vụ chưa được quan tâm đúng mức, đã ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao.
1.3.2. Về chủ quan
Ở một số đơn vị thuộc Bộ, ngành ta còn tình trạng chưa chủ động, chậm triển khai công việc, kể cả một số nhiệm vụ trọng tâm; chất lượng tham mưu còn hạn chế; vẫn còn chậm, hạn chế về chất lượng trong trả lời kiến nghị, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ đối với các cơ quan tư pháp địa phương.
- Một số tổ chức pháp chế, Sở Tư pháp chưa tham mưu kịp thời, đầy đủ cho Lãnh đạo các Bộ, ngành và cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác tư pháp, pháp chế và xử lý các vấn đề phát sinh từ thực tiễn thi hành pháp luật. Bên cạnh đó, một số Bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm, phát huy hiệu quả vai trò tham mưu của cơ quan tư pháp, pháp chế, nhất là trong công tác soạn thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật.
- Hạn chế trong phối hợp giữa các Bộ, ngành với nhau, giữa Trung ương và địa phương, nhất là trong công tác xây dựng pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật tiếp tục là nguyên nhân gây nên những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước về xây dựng pháp luật.
- Kỷ cương, kỷ luật công vụ ở một số cơ quan, đơn vị chưa nghiêm. Còn tư tưởng ngại thay đổi, nhất là trong ứng dụng, khai thác các thế mạnh của công nghệ thông tin, trong cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, đổi mới lề lối làm việc.
3. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật
Nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp với tư cách là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật theo hướng cần có chủ trương, biện pháp đồng bộ để bảo đảm chất lượng và tiến độ của hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, chúng tôi xin đưa ra các giải pháp mang tính cụ thể trước mắt và dài hạn như sau:
3.1. Các giải pháp để khắc phục những hạn chế trước mắt
Trước hết, để làm tốt nhiệm vụ là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp cần làm tốt những việc sau đây:
1. Tham mưu cho Chính phủ xây dựng và tổ chức thực hiện tốt Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội. Thực hiện tốt công tác thẩm định đề nghị xây dựng văn bản, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, coi đây là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật ở các Bộ, ngành, địa phương. Chuẩn bị tốt công tác đánh giá tình hình triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013.
2. Đẩy mạnh công tác tổ chức thi hành pháp luật, nhất là các luật mới được Quốc hội thông qua như Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước, Luật trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, gắn với triển khai hiệu quả Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021, Đề án một số giải pháp đổi mới công tác tổ chức thi hành pháp luật sau khi được Thủ tướng Chính phủ ban hành. Tiếp tục theo dõi tình hình thi hành Bộ luật dân sự, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Luật đấu giá tài sản, kịp thời phát hiện và hướng dẫn xử lý các vướng mắc trong thi hành. Chủ động phản ứng chính sách pháp luật, phát hiện, xử lý các văn bản trái pháp luật, không phù hợp với thực tiễn, nhất là các vấn đề pháp lý liên quan đến người dân, doanh nghiệp; khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết.
3. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, kịp thời xử lý văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền, tập trung xử lý triệt để các văn bản trái pháp luật đã được phát hiện và kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với người tham mưu ban hành văn bản trái pháp luật. Đảm bảo tiến độ, chất lượng trong công tác rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.
3.2. Các giải pháp lâu dài nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật
3.2.1. Chiến lược thu hút, đào tạo, bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật đồng thời làm công tác xây dựng pháp luật
- Chính sách thu hút, tuyển dụng, trọng dụng và đãi ngộ người tài năng có vai trò hết sức quan trọng và trở thành một yếu tố mang tầm chiến lược trong quá trình cải cách nền công vụ của quốc gia nói chung và trong việc nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật nói riêng. Vì vậy, để nâng cao trình độ của đội ngũ công chức làm công tác xây dựng pháp luật và quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật thì cần có cách thức phù hợp để thu hút công chức thật sự có năng lực, phẩm chất và đạo đức phục vụ cho hoạt động này. Thu hút người có tài phải đi đôi với việc sử dụng, trọng dụng một cách phù hợp, bố trí công việc phải khách quan, khoa học phù hợp với năng lực chuyên môn để tăng động lực làm việc cho đội ngũ công chức, làm cho họ thêm yêu ngành, yêu nghề, vừa hồng, vừa chuyên, tránh trường hợp “chảy máu chất xám”.
- Bên cạnh việc thu hút thì cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ công chức đang làm công tác xây dựng pháp luật và quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Xây dựng Đề án vị trí việc làm, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Bộ Tư pháp, pháp chế bộ ngành, tư pháp địa phương theo Nghị định số 96/2017/NĐ-CP, Nghị định số 55/2011/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ.
- Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành Tư pháp theo hướng trẻ hoá đội ngũ cán bộ, đảm bảo sự kế thừa hợp lý giữa các thế hệ cán bộ; gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và sử dụng cán bộ; thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra theo từng giai đoạn và hằng năm. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, trong các lĩnh vực thuộc ngành Tư pháp trong từng thời kỳ; trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển chung về số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ trong toàn Ngành.
- Xây dựng, hoàn thiện quy chế tuyển chọn cán bộ phù hợp với đặc điểm, đặc thù của ngành Tư pháp; bảo đảm cho quá trình tuyển chọn cán bộ thực sự công khai, minh bạch; thực hiện dân chủ trong công tác cán bộ; mở rộng và chủ động tìm kiếm, phát hiện, lựa chọn nhân tài vào làm việc trong ngành Tư pháp; có chính sách đãi ngộ thích đáng cho người làm công tác xây dựng pháp luật và pháp chế.
- Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng cán bộ, công chức làm công tác tư pháp, pháp luật. Tăng cường tập huấn, nâng cao nhận thức và năng lực và kỹ năng đối ngoại cho cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật và quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật.
Từ những chiến lược mang tính chất định hướng nêu trên, các đơn vị giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật cần chú trọng các vấn đề sau:
Thứ nhất, các đơn vị xây dựng pháp luật cần xác định cơ cấu cán bộ trực tiếp làm công tác xây dựng pháp luật một cách hợp lý (về trình độ, thâm niên, lĩnh vực hoạt động...) để bố trí hợp lý và bảo đảm đủ cán bộ thực hiện nhiệm vụ được giao (tham gia đầy đủ các Ban soạn thảo, Tổ biên tập, tham gia thẩm định đề nghị xây dựng văn bản, dự án, dự thảo văn bản...). Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp cần có cơ chế, chính sách đặc thù để ưu tiên thu hút, tuyển dụng và bố trí các cán bộ đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng pháp luật cho các đơn vị xây dựng pháp luật để có thể thực hiện được ngay nhiệm vụ soạn thảo, góp ý, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ hai, chú trọng việc đào tạo, tập huấn kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách, kỹ năng thẩm định cho các công chức tham gia xây dựng pháp luật, đặc biệt là công chức trẻ. Ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chung về quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực thì cần bổ sung, cập nhật vào chương trình kiến thức, hiểu biết về kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế để nâng cao chất lượng xây dựng, đánh giá tác động chính sách cũng như soạn thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ ba, đẩy nhanh việc soạn thảo cũng như xuất bản các cuốn sổ tay, cẩm nang về xây dựng pháp luật, thường xuyên tổ chức tập huấn chuyên sâu về công tác xây dựng pháp luật cho cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật tại trung ương và địa phương. Tăng cường tổ chức các lớp tập huấn giảng viên nguồn về xây dựng pháp luật để về đào tạo tại chỗ cho các cơ quan, đơn vị.
3.2.2. Tăng cường cơ sở vật chất gắn với ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật
Hiện đại hoá phương thức và phương tiện xây dựng pháp luật. Khai thác, ứng dụng tối đa thành tựu của khoa học, kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin nhằm đổi mới phương pháp, tiến độ, chất lượng và hiệu quả của quy trình xây dựng pháp luật và quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Tăng cường hơn nữa việc áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình xây dựng văn bản để tổ chức, cá nhân có thể tham gia ý kiến trực tiếp, phản biện trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật . Hoàn thiện cơ sơ dữ liệu quốc gia về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ngành, lĩnh vực và cung cấp thông tin thường xuyên, liên tục để đáp ứng cho người có nhu cầu khai thác, sử dụng.
3.2.3. Tăng cường kinh phí cho hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật
Để công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật được thực hiện một cách bài bản và phát huy được hiệu quả thì Chính phủ giao Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp xây dựng Đề án tổng thể bảo đảm nguồn kinh phí hợp lý dành riêng cho các hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật, trong đó cần phải bố trí nguồn kinh phí phù hợp cho hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Ngoài ra, Chính phủ cần có quyết sách giao Bộ Tư pháp phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi cho người làm công tác xây dựng pháp luật và pháp chế, tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ pháp chế của các bộ, ngành và địa phương.
3.2.4. Việc quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật cần phải công khai, minh bạch
Công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật là đảm bảo thông tin được chia sẻ một cách rõ ràng và đảm bảo khả năng tiếp cận được thông tin, sẵn sàng tham gia trao đổi một cách thẳng thắn, trung thực về quá trình xây dựng pháp luật. Minh bạch luôn gắn liền với trách nhiệm giải trình, đòi hỏi người làm công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật cần công khai việc thực hiện công việc trong quá trình quản lý. Minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật nói riêng là yêu cầu quan trọng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Tuy nhiên, vấn đề công khai trong hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật hiện nay ở nước ta vẫn tồn tại một số hạn chế. Do đó, để nâng cao hơn nữa tính minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật thì cần tăng cường sự tham gia của các bên vào quá trình quản lý, đa dạng hóa các hình thức phản hồi của các tổ chức và công dân đối với hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật; ứng dụng mạnh mẽ và hiệu quả công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý, trao đổi thông tin qua internet, đường dây nóng và phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng./.