Ngày 05 tháng 3 năm 2018, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ký Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và các văn bản liên quan cùng Bộ trưởng phụ trách kinh tế của các nước Ốt-xtrây-lia, Bru-nây Đa-rút-xa-lam, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru và Xinh-ga-po vào ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại San-ti-a-gô, Chi-lê. Sau khi ký Hiệp định, các nước sẽ tiến hành thủ tục pháp lý trong nước, bao gồm việc phê chuẩn Hiệp định theo quy định của pháp luật nước mình để Hiệp định có hiệu lực.
Ngày 05 tháng 3 năm 2018, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ký Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và các văn bản liên quan cùng Bộ trưởng phụ trách kinh tế của các nước Ốt-xtrây-lia, Bru-nây Đa-rút-xa-lam, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru và Xinh-ga-po vào ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại San-ti-a-gô, Chi-lê. Sau khi ký Hiệp định, các nước sẽ tiến hành thủ tục pháp lý trong nước, bao gồm việc phê chuẩn Hiệp định theo quy định của pháp luật nước mình để Hiệp định có hiệu lực.
Theo Nghị quyết số 72/2018/QH14 ngày 12/11/2018 của Quốc hội về việc phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan và Quyết định số 121/QĐ-TTg ngày 24/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện CPTPP, Trong số những dự án luật cần phải sửa đổi, bổ sung ngay khi Hiệp định có hiệu lực có Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ.
1. Đối với Luật Kinh doanh bảo hiểm
Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 9/12/2000, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2001 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010 bằng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2010, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011). Sau đó, Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành 47 văn bản hướng dẫn thi hành. Hệ thống các văn bản này đã: (i) tạo khung khổ pháp lý minh bạch; (ii) tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp; (iii) đảm bảo chặt chẽ từ khâu cấp phép đến quản lý các hoạt động của doanh nghiệp, xử lý vi phạm hành chính; (iv) đảm bảo hài hòa giữa quản lý giám sát thận trọng và tạo chủ động trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ Tài chính thường xuyên cập nhật, hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm tạo động lực kinh doanh và phát triển thị trường an toàn, bền vững.
Tuy nhiên để triển khai thực hiện Hiệp định CPTPP, Luật Kinh doanh bảo hiểm vẫn còn vướng phải một số vướng mắc, bất cập cụ thể như sau:
Cam kết tại CPTPP yêu cầu mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam đối với hoạt động phụ trợ bảo hiểm. Hoạt động phụ trợ là bộ phận cấu thành không thể thiếu và hỗ trợ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế. Đối với lĩnh vực bảo hiểm, hoạt động phụ trợ bảo hiểm đóng vai trò quan trọng giúp thị trường bảo hiểm phát triển lành mạnh, giúp các bên tham gia giảm thiểu rủi ro; đề phòng, hạn chế tổn thất; hạn chế gian lận bảo hiểm; tối ưu hóa nguồn lực; chi trả tiền bảo hiểm, bồi thường nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời. Thị trường bảo hiểm có hoạt động phụ trợ bảo hiểm hiệu quả sẽ đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế, giúp gia tăng năng lực cạnh tranh; tạo thêm nhiều cơ hội kinh doanh, khởi nghiệp; tăng cường áp dụng công nghệ trong hoạt động, kết nối nội ngành và liên ngành; bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng.
Mặc dù vậy, khung khổ pháp lý về hoạt động phụ trợ bảo hiểm tại Việt Nam còn thiếu, chưa đồng bộ. Hoạt động phụ trợ bảo hiểm là bộ phận cấu thành của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tuy nhiên hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm hiện hành chưa quy định cụ thể về hoạt động phụ trợ bảo hiểm. Luật Kinh doanh bảo hiểm mới chỉ quy định về môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm. Còn các quy định cụ thể đối với hoạt động phụ trợ bảo hiểm khác như: hoạt động tư vấn bảo hiểm, hoạt động đánh giá rủi ro bảo hiểm, hoạt động hỗ trợ bảo hiểm, hoạt động giám định bảo hiểm trong Nghị quyết số 72/2018/QH14 của Quốc hội phê chuẩn Hiệp định CPTPP thì lại chưa có.
+ Hoạt động tư vấn bảo hiểm: Tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn để quản trị rủi ro trong hoạt động và đời sống, doanh nghiệp bảo hiểm có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn quản trị rủi ro doanh nghiệp, tư vấn thiết kế sản phẩm, tư vấn về chiến lược hoạt động trong thị trường bảo hiểm; người tham gia bảo hiểm có nhu cầu được tư vấn về thông tin thị trường, về sản phẩm bảo hiểm, về thực hiện hợp đồng bảo hiểm, về các biện pháp quản lý rủi ro. Ví dụ: Tư vấn về chương trình bảo hiểm, phương án quản lý rủi ro nội tại giúp khách hàng có chiến lược quản lý rủi ro, lựa chọn danh mục tài sản cần bảo hiểm, cách thức quản lý rủi ro, chuyển giao rủi ro thay thế; Tư vấn về các chương trình nâng chất lượng cuộc sống, quản lý sức khỏe, phân tích dữ liệu tổn thất và quản lý kiểm soát rủi ro, giúp giảm thiểu, hạn chế tổn thất; Tư vấn xây dựng, phát triển thiết kế sản phẩm đối với các doanh nghiệp bảo hiểm hoặc các sản phẩm mới trên thị trường; Tư vấn về đấu thầu bảo hiểm...
Hoạt động tư vấn bảo hiểm giúp tổ chức, cá nhân tăng hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, tối đa hóa lợi ích liên quan, nâng cao chất lượng cuộc sống.
+ Hoạt động đánh giá rủi ro bảo hiểm: Hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong việc nhận diện rủi ro bảo hiểm, phân loại và đánh giá rủi ro bảo hiểm, từ đó đưa ra các biện pháp quản trị rủi ro bảo hiểm hiệu quả. Với tổ chức, cá nhân có nhu cầu về bảo hiểm, hoạt động đánh giá rủi ro hỗ trợ lựa chọn rủi ro cần bảo hiểm hiệu quả nhất, xác định phạm vi, chi phí hợp lý cho bảo hiểm. Với doanh nghiệp bảo hiểm, hoạt động đánh giá rủi ro hỗ trợ xem xét thẩm định bảo hiểm, đưa ra quyết định hợp lý về loại hình, phí liên quan đến rủi ro nhận bảo hiểm. Với những đánh giá chi tiết về rủi ro bảo hiểm, hoạt động đánh giá rủi ro hỗ trợ khách hàng lựa chọn các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất, quản lý rủi ro hiệu quả, nhằm giảm chi phí cho khách hàng.
+ Hoạt động hỗ trợ bảo hiểm: Các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm có thể thuê bên thứ ba (bên cung cấp dịch vụ) thực hiện một số công đoạn của quá trình kinh doanh bảo hiểm như thu thập hồ sơ, hỗ trợ quá trình giải quyết bồi thường, hỗ trợ chi trả tiền bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm, thu phí bảo hiểm (không bao gồm chấp nhận bảo hiểm và chấp nhận bồi thường bảo hiểm).
+ Hoạt động giám định bảo hiểm: Hoạt động giám định bảo hiểm xác định hiện trạng, mức độ, nguyên nhân tổn thất, thiệt hại làm cơ sở giải quyết bồi thường bảo hiểm. Hoạt động giám định bảo hiểm giúp chuyên nghiệp hóa, cung cấp thông tin khách quan, minh bạch cho quá trình xem xét chấp nhận bảo hiểm và giải quyết bồi thường bảo hiểm, giúp giải quyết bồi thường bảo hiểm nhanh chóng, đảm bảo kịp thời.
Có thể thấy
Tại nhiều thị trường bảo hiểm phát triển trên thế giới, hoạt động phụ trợ bảo hiểm có tác động mạnh mẽ tới chất lượng, hiệu quả hoạt động và sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Quy định pháp lý về hoạt động phụ trợ bảo hiểm cụ thể, rõ ràng, tạo điều kiện để hỗ trợ tốt thị trường bảo hiểm, tạo hành lang pháp lý để cơ quan quản lý bảo hiểm có đủ thẩm quyền, công cụ quản lý, giám sát hiệu quả hoạt động phụ trợ bảo hiểm.
Việc bổ sung quy định về hoạt động phụ trợ bảo hiểm, vừa đáp ứng yêu cầu của thị trường bảo hiểm trong nước, vừa đáp ứng yêu cầu thể chế hóa cam kết tại CPTPP, tạo cơ sở pháp lý để Việt Nam chủ động mở cửa thị trường bảo hiểm đối với hoạt động phụ trợ bảo hiểm. Môi trường pháp lý rõ ràng, chi tiết, minh bạch sẽ giúp thu hút các nhà cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm hàng đầu thế giới tại các thị trường đã phát triển, tạo động lực hỗ trợ nâng cao chất lượng của các nhà cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm trong nước, tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ hoạt động phụ trợ bảo hiểm tại Việt Nam. Thêm vào đó, quy định pháp lý được xây dựng, bổ sung khi Việt Nam chủ động mở cửa, sẽ bao gồm các yêu cầu cụ thể về cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới, phù hợp với lộ trình hội nhập của hoạt động phụ trợ bảo hiểm tại Việt Nam, tạo điều kiện để các tổ chức cung cấp dịch vụ nội địa có đủ thời gian nâng cao năng lực cạnh tranh với các tổ chức cung cấp dịch vụ quốc tế.
2. Đối với Luật Sở hữu trí tuệ
Điều 3 Nghị quyết số 72/2018/QH14 giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan theo thẩm quyền tiến hành rà soát các dự án luật tại Phụ lục 3 của Nghị quyết và các văn bản pháp luật khác để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới kịp thời, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và đúng lộ trình thực hiện các cam kết trong Hiệp định CPTPP.
Theo Mục 2 Phụ lục 3 Nghị quyết số 72/2018/QH14, Luật Sở hữu trí tuệ phải được sửa đổi để thực hiện một số nghĩa vụ về sở hữu trí tuệ trong Hiệp định CPTPP. Trong số này, một số nghĩa vụ phải thực hiện ngay từ khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực và một số nghĩa vụ có thời gian chuyển tiếp từ 3 đến 5 năm.
Theo đó, có 2 nội dung liên quan tới nhãn hiệu, 1 nghĩa vụ liên quan đến tên miền, 3 nghĩa vụ liên quan đến chỉ dẫn địa lý, 1 nghĩa vụ liên quan đến sáng chế và 5 nghĩa vụ liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Đối với nghĩa vụ liên quan đến tên miền, nghĩa vụ này lại được chia thành hai nghĩa vụ nhỏ hơn, bao gồm: (i) bảo đảm thủ tục giải quyết tranh chấp tên miền thích hợp tương tự như các nguyên tắc đã được quy định trong Chính sách thống nhất giải quyết tranh chấp tên miền, được Tổ chức cấp phát số hiệu và tên trên Internet (ICANN) thông qua; hoặc (ii) có chế tài thích hợp để xử lý trường hợp một người đăng ký hoặc nắm giữ tên miền trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nhằm thu lợi bất chính.
Nghĩa vụ này đã được đáp ứng theo các quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, việc thi hành các chế tài hành chính theo Nghị định này còn nhiều bất cập do vướng quy định của Thông tư liên tịch số 14/2016/TTLT-BTTTT-BKHCN ngày 08 tháng 6 năm 2016 hướng dẫn trình tự, thủ tục thay đổi, thu hồi tên miền vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Việc xử lý xâm phạm tên miền nên được xử lý theo thủ tục về tranh chấp quyền sử dụng tên miền quy định tại Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng. Bộ Thông tin Truyền thông sẽ trình việc sửa đổi Nghị định này để đáp ứng yêu cầu của Hiệp định CPTPP. Vì vậy, không cần đặt ra chính sách sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ để thi hành nghĩa vụ này.
Đối với 4 nghĩa vụ có thời gian chuyển tiếp 3-5 năm (bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, bảo đảm thông tin và thời gian cho chủ bằng sáng chế thực thi quyền trước khi sản phẩm được đưa ra thị trường, bảo hộ độc quyền đối với dữ liệu thử nghiệm nông hóa phẩm, thẩm quyền mặc nhiên tiến hành các thủ tục biên giới của cơ quan hải quan), các nghĩa vụ này sẽ bắt đầu phải thi hành từ năm 2022, dự kiến sẽ được đưa vào Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ được trình Quốc hội vào kỳ họp cuối năm 2021 (Bộ Khoa học và Công nghệ dự kiến trình Chính phủ hồ sơ đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ trong quý IV năm 2019. Trên cơ sở đó, Chính phủ trình Quốc hội xem xét đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021).
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ cho tương thích với các quy định trong Hiệp định CPTPP là cần thiết để bảo đảm tính thống nhất, hiệu quả, hiệu lực của hệ thống pháp luật Việt Nam và thể hiện tinh thần chủ động, nghiêm túc thực hiện các điều ước quốc tế của Việt Nam. Cụ thể như sau:
- Thứ nhất, Luật Sở hữu trí tuệ đã có quy định song chưa cụ thể
Cụ thể: Nghĩa vụ phải quy định cơ quan tư pháp, khi xác định khoản bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải xem xét bất kỳ cách tính giá trị hợp pháp nào do chủ thể quyền đưa ra, trong đó có thể bao gồm lợi nhuận bị mất, giá trị của hàng hoá hoặc dịch vụ bị xâm phạm tính theo giá thị trường, hoặc theo giá bán lẻ được đề xuất (Điều 18.74.4); Nghĩa vụ trong thủ tục bảo hộ hoặc công nhận chỉ dẫn địa lý, khi có ý kiến của người thứ ba phản đối việc bảo hộ hoặc công nhận chỉ dẫn địa lý này, thì phải quy định chỉ dẫn địa lý sẽ bị từ chối bảo hộ hoặc không công nhận trên cơ sở việc bảo hộ hoặc công nhận chỉ dẫn địa lý đó có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu là đối tượng của đơn có trước đã được nộp một cách trung thực hoặc với nhãn hiệu đã được bảo hộ tại Việt Nam (Điều 18.32.1.a).
- Thứ hai, Luật Sở hữu trí tuệ không có quy định song đã triển khai thực hiện trong thực tiễn
Cụ thể: Nghĩa vụ cho phép nộp đơn đăng ký và duy trì hiệu lực nhãn hiệu bằng phương tiện điện tử; và có một hệ thống thông tin điện tử có thể truy cập công cộng, bao gồm cơ sở dữ liệu trực tuyến gồm các đơn đăng ký nhãn hiệu và nhãn hiệu đã được đăng ký (Điều 18.24 CPTPP).
- Thứ ba, Luật Sở hữu trí tuệ đã có quy định song trái với quy định tương ứng của Hiệp định CPTPP
Cụ thể: Nghĩa vụ không được yêu cầu đăng ký việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu để xác lập hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng (Điều 18.27 CPTPP).
- Thứ tư, Luật Sở hữu trí tuệ hoàn toàn chưa có quy định như yêu cầu của Hiệp định CPTPP
Cụ thể: Nghĩa vụ nếu bảo hộ hoặc công nhận dạng dịch nghĩa hoặc phiên tự của chỉ dẫn địa lý theo thủ tục hành chính thì thủ tục đó và cơ sở về việc bảo hộ/hủy bỏ phải tương đương/trùng với thủ tục và các cơ sở áp dụng cho chỉ dẫn địa lý thông thường (Điều 18.32.5); nghĩa vụ quy định mức phí nộp đơn yêu cầu kiểm tra, giám sát và tạm dừng thủ tục hải quan, phí lưu kho và phí tiêu hủy không cản trở một cách bất hợp lý việc áp dụng các thủ tục liên quan tới các biện pháp tại biên giới (Điều 18.76.8); nghĩa vụ quy định Toà án có thẩm quyền yêu cầu một bên bồi thường thiệt hại đối với các thiệt hại thực tế (có thể bao gồm cả phí luật sư hợp lý) do việc lạm dụng thủ tục thực thi quyền SHTT của bên đó gây ra (Điều 18.74.15).
- Thứ năm, đối với cơ quan xác lập quyền sở hữu trí tuệ (Cục Sở hữu trí tuệ)
Nghĩa vụ cho phép nộp đơn đăng ký và duy trì hiệu lực nhãn hiệu bằng phương tiện điện tử; và có một hệ thống thông tin điện tử có thể truy cập công cộng, bao gồm cơ sở dữ liệu trực tuyến (gồm các đơn đăng ký nhãn hiệu và nhãn hiệu đã được đăng ký) đòi hỏi Cục Sở hữu trí tuệ phải nâng cấp, vận hành hệ thống nộp đơn trực tuyến một cách đồng bộ, ổn định. Trong khi đó, điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng như nguồn lực hiện nay của Cục Sở hữu trí tuệ chưa thể đáp ứng đầy đủ việc thực hiện các cam kết. Do đó, đòi hỏi nhà nước cần đầu tư các nguồn lực thỏa đáng (xây dựng và duy trì cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu, công cụ tra cứu…).
Các nghĩa vụ liên quan đến bảo hộ hoặc công nhận dạng dịch nghĩa hoặc phiên tự của chỉ dẫn địa lý; đánh giá một thuật ngữ có phải là tên gọi chung của hàng hóa tại Việt Nam; mở rộng ngoại lệ đối với tính mới của sáng chế… đặt ra yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ phải xem xét toàn diện các yếu tố để xử lý đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, sáng chế..., do đó, có khả năng làm phức tạp thêm quá trình thẩm định, dễ dẫn tới kéo dài thời hạn thẩm định.
- Thứ sáu, đối với các cơ quan thực thi hành chính
Nghĩa vụ cung cấp thông tin cho chủ thể quyền trong trường hợp cơ quan hải quan tạm giữ hàng hoá hoặc xác định hàng hoá là giả mạo quyền SHTT sau khi đã tạm dừng thông quan sẽ làm tăng khối lượng công việc và chi phí cho cơ quan hải quan.
Nghĩa vụ bảo đảm thủ tục giải quyết tranh chấp tên miền thích hợp cũng như có chế tài thích hợp để xử lý trường hợp một người đăng ký hoặc nắm giữ tên miền trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nhằm thu lợi với ý đồ xấu đòi hỏi cán bộ các cơ quan thực thi phải có trình độ chuyên môn sâu về SHTT, như khi xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi tên miền xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý chẳng hạn. Trong khi đó, trình độ chuyên môn về SHTT của các cơ quan thực thi còn nhiều hạn chế, việc ban hành các quyết định xử lý vi phạm hành chính về SHTT còn phụ thuộc vào ý kiến chuyên môn của Cục Sở hữu trí tuệ hoặc kết quả giám định của Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ.
- Thứ bảy, đối với Toà án
Việc sửa đổi các quy định về giải quyết tranh chấp dân sự liên quan đến quyền SHTT (ví dụ, Tòa án có quyền yêu cầu bên lạm dụng thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải bồi thường cho bị đơn do sự lạm dụng thủ tục thực thi quyền; bên thua kiện phải thanh toán cho bên thắng kiện phí luật sư hợp lý trong các vụ xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan, nhãn hiệu và sáng chế…) có khả năng làm phức tạp thêm các tranh chấp dân sự liên quan đến quyền SHTT tại Toà án, đồng thời gia tăng số lượng các tranh chấp dân sự về quyền SHTT tại Toà án. Quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự này có thể sẽ rất phức tạp, đòi hỏi đội ngũ thẩm phán Toà án phải có năng lực, kiến thức chuyên môn sâu về SHTT. Trong khi đó, hiện nay lại chưa có thẩm phán chuyên trách về SHTT tại các cấp Toà án.
Phạm Thị Ninh, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)
- Nghị quyết số 72/2018/QH14 ngày 12/11/2018 của Quốc hội về việc phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)
- Luật Kinh doanh bảo hiểm
- Luật Sở hữu trí tuệ