Với chức năng là cơ quan giúp Chính phủ chủ trì công tác quản lý Nhà nước về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang thường xuyên giúp Chính phủ tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giới thiệu, tập huấn về Hiến pháp. Tổ chức rà soát, lập danh mục đề xuất văn bản quy phạm pháp luật cần bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013. Tổ chức xây dựng các dự án luật, pháp lệnh để thi hành Hiến pháp. Thực hiện việc phối hợp trong quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương cũng đã tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật, kịp thời phản ứng chính sách, giải quyết các vấn đề thực tiễn phát sinh trong phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương, bảo đảm phù hợp với nội dung Hiến pháp năm 2013.
Ngoài ra, Bộ Tư pháp tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật. Bộ đã tiếp tục thực hiện hiệu quả các quy chế, chương trình phối hợp đã ký với các cơ quan và tiếp tục ký kết, triển khai các quy chế phối hợp với các Bộ, ngành khác
[1] trong các lĩnh vực như kiểm tra văn bản với xây dựng văn bản và phổ biến, giáo dục pháp luật.
Một trong những hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp là thực hiện công tác theo dõi tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, Bộ Tư pháp đã thường xuyên đôn đốc, tổ chức làm việc với các Bộ, ngành nợ đọng nhiều văn bản; tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các giải pháp tăng cường trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản. Nhờ đó, tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh đã giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều năm gần đây, đặc biệt, không còn văn bản nợ đọng thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Trong thời gian qua, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong hậu kiểm xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã tiến hành kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, ngành, địa phương và văn bản do Bộ Tư pháp ban hành và đã phát hiện xử lý kịp thời những văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (VD: Năm 2018, các bộ, cơ quan ngang bộ (bao gồm cả Bộ Tư pháp) và địa phương đã kiểm tra theo thẩm quyền đối với 17.839 văn bản; trong đó, các bộ, cơ quan ngang bộ kiểm tra được 6.569 văn bản
[2] (trong đó có 6.524 văn bản QPPL), các địa phương kiểm tra được 11.270 văn bản
[3] (trong đó có 8.110 văn bản QPPL). Qua công tác kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đã phát hiện 339 văn bản QPPL trái pháp luật về thẩm quyền ban hành và nội dung; 1.594 văn bản QPPL sai sót về căn cứ pháp lý, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản; 166 văn bản không phải là văn bản QPPL nhưng có chứa QPPL. Qua đó, các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đã xử lý được 1.695văn bản QPPL (bao gồm văn bản QPPL trái pháp luật về thẩm quyền ban hành, nội dung và văn bản QPPL sai sót về căn cứ pháp lý, thể thức và kỹ thuật trình bày). Song, cũng phải thẳng thắn thừa nhận, chất lượng nhiều văn bản quy phạm pháp luật chưa đạt yêu cầu, thiếu khả thi, đòi hỏi công tác quản lý về vấn đề này cần phải sát sao hơn nữa.
Ngoài những kết quả đạt được kể trên, thì kết quả chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật được thể hiện chủ yếu ở hai nội dung sau:
1. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật trong việc tuân thủ một số quy định mới của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015:
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về pháp luật, ngay sau khi Luật năm 2015 có hiệu lực, Bộ Tư pháp đã giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc tổ chức việc ban hành văn bản quy định chi tiết và văn bản chỉ đạo, đôn đốc thi hành như ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch, Chỉ thị triển khai thi hành Luật và các văn bản chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật năm 2015 trong phạm vi quản lý của mình.
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của mình được giao trong Luật năm 2015, Bộ Tư pháp đã có những biện pháp cứng rắn đối với từng khâu trong quá trình xây dựng văn bản nên nhìn chung ở trung ương, địa phương đã tuân thủ một các nghiêm ngặt các quy định của Luật cũng như các biện pháp quản lý của Bộ Tư pháp. Các bộ, cơ quan ngang bộ đã thực hiện tương đối đầy đủ các bước của quy trình lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định như tổng kết thi hành pháp luật, khảo sát, nghiên cứu lý luận để xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách; tổ chức lấy ý kiến; tiếp thu góp ý của các cơ quan, tổ chức và ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp. Ở địa phương, trình tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh đang từng bước được thực hiện theo đúng quy định mới của Luật năm 2015. Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do UBND tỉnh trình thì trước khi trình Thường trực HĐND tỉnh xem xét, chấp thuận đề nghị, cơ quan lập đề nghị đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo quy định của Luật năm 2015, gửi Sở Tư pháp thẩm định và trình UBND xem xét, thông qua chính sách.
- Đối với quy định về lấy ý kiến đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật: về cơ bản, các quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đều đã được các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện. Các đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đều được tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, các cơ quan, tổ chức có liên quan với nhiều hình thức phù hợp. Việc đăng tải công khai các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên các Cổng thông tin, Trang thông tin điện tử để lấy ý kiến Nhân dân, doanh nghiệp được thực hiện tương đối nghiêm túc. Ở địa phương, đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh, các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh đều được gửi lấy ý kiến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (trường hợp có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp).
- Đối với quy định về thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định: các báo cáo thẩm định có lập luận xác đáng, trong đó tập trung vào đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật... của nội dung chính sách trong đề nghị. Đặc biệt, thực hiện thẩm quyền được Luật năm 2015 giao, Bộ Tư pháp đã trả lại hồ sơ và yêu cầu cơ quan lập đề nghị chuẩn bị lại đối với các đề nghị xây dựng văn bản không đủ điều kiện tŕnh Chính phủ. Thông qua công tác thẩm định, ý thức kỷ luật, kỷ cương của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước được nâng cao.
Chất lượng công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được nâng cao, chú trọng vào tính đồng bộ, thống nhất và đặc biệt là tính khả thi của văn bản (Ví dụ: Theo báo cáo công tác tư pháp năm 2017, trong năm 2017, toàn ngành Tư pháp đã tổ chức thẩm định
9.988 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (giảm gần 16% so với năm 2016), trong đó Tổ chức Pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã thẩm định
932 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các Sở Tư pháp thẩm định
5.088 dự thảo, các Phòng Tư pháp thẩm định
3.728 dự thảo. Riêng Bộ Tư pháp đã thẩm định
240 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, trong đó đã bảo đảm chất lượng và đẩy nhanh tiến độ thẩm định chùm nghị định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các Bộ, ngành. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng đã thẩm định
50 đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ; các Sở Tư pháp thẩm định
272 đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh).
Công tác tổ chức thi hành Luật năm 2015 đã được tiến hành kịp thời, nghiêm túc từ trung ương đến địa phương; các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành một hệ thống đồng bộ các văn bản quy định chi tiết và các văn bản chỉ đạo, đôn đốc thi hành Luật. Do vậy, đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật về cơ bản nắm được tinh thần và nội dung mới của Luật năm 2015.
- Luật năm 2015 đã tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành ở trung ương và địa phương về ý nghĩa, vai trò của công tác xây dựng pháp luật, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động xây dựng pháp luật, góp phần đưa công tác xây dựng pháp luật ngày càng đi vào nền nếp.
- Các bộ, ngành, địa phương đã tuân thủ và thực hiện tương đối nghiêm quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP như việc chuẩn bị hồ sơ trình, bảo đảm thời hạn trình, tuân thủ thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản; quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản, việc đăng Công báo, đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật...
- Chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được nâng cao; nội dung của văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính hợp hiến, cơ bản bảo đảm tính hợp pháp và tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đa số văn bản bảo đảm tính khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Ở địa phương, tình trạng sao chép quy định của văn bản của cơ quan nhà nước ở trung ương đã được hạn chế; số lượng văn bản quy phạm pháp luật do cấp huyện, cấp xă ban hành giảm đáng kể. Điều đó chứng tỏ các quy định của Luật năm 2015 bắt đầu phát huy tác dụng và bước đầu tạo sự chuyển biến mới, tích cực trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên phạm vi cả nước.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp tiếp tục theo dõi sát sao tình hình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, kịp thời hướng dẫn xử lý các vướng mắc phát sinh; đã có báo cáo với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện Luật, trong đó đề xuất nhiều giải pháp thực hiện các quy định mới của Luật và sửa đổi, bổ sung Luật.
2. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật trong việc phổ biến, tập huấn, hướng dẫn thống nhất chuyên môn, nghiệp vụ trên toàn quốc
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của mình, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp các cơ quan có liên quan tổ chức các Hội nghị phổ biến quán triệt các văn bản về xây dựng pháp luật, đặc biệt là quán triệt thực hiện, Hội nghị tập tuấn chuyên sâu Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 tại ba miền Bắc, Trung, Nam cho cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật ở các bộ, ngành, địa phương.
Cùng với việc quán triệt những định hướng lớn trong xây dựng pháp luật Bộ Tư pháp tổ chức xây dựng các Sổ tay, các cẩm nang về xây dựng pháp luật như: kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, kỹ năng thẩm định, kỹ năng đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, Bộ Tư pháp tổ chức các cuộc tập huấn các kỹ năng nêu trên. Trong năm 2016 và năm 2017, Bộ Tư pháp đã tổ chức 08 lớp bồi dưỡng theo chuyên đề nhằm cung cấp các kỹ năng cần thiết trong công tác xây dựng pháp luật như kỹ năng đánh giá tác động của chính sách, soạn thảo, thẩm định; kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật...
Nhận thức được tầm quan trọng trong vai trò quản lý nhà nước của mình và để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của mình về công tác xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã phát triển những cánh tay nối dài của mình tại các Bộ, ngành là các Vụ pháp chế và các Sở Tư pháp tại các tỉnh thành, bộ phận pháp chế tại các cơ quan chuyên môn trong việc triển khai, đôn đốc thực hiện, có những lớp đào tạo giảng viên nguồn để về đào tạo tại cơ quan đơn vị mình tập huấn, đào tạo tại chỗ để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực xây dựng pháp luật cho đội ngũ công chức. Đội ngũ những người làm công tác pháp chế và phổ biến, giáo dục pháp luật đã từng bước được củng cố, kiện toàn. Tính đến đầu năm 2017, số người làm công tác pháp chế ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là 2.708 người; ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là 2.163 người. Tổng số báo cáo viên pháp luật của Trung ương và địa phương là 23.992 người.
3. Các giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật
Để làm tốt nhiệm vụ là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, thời gian tới, Bộ Tư pháp cần tiếp tục tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau đây:
- Tham mưu cho Chính phủ xây dựng và tổ chức thực hiện tốt Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội. Thực hiện tốt công tác thẩm định đề nghị xây dựng văn bản, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, coi đây là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật ở các Bộ, ngành, địa phương. Chuẩn bị tốt công tác đánh giá tình hình triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013.
- Đẩy mạnh công tác tổ chức thi hành pháp luật, nhất là các luật mới được Quốc hội thông qua gắn với triển khai hiệu quả Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021, Đề án một số giải pháp đổi mới công tác tổ chức thi hành pháp luật sau khi được Thủ tướng Chính phủ ban hành. Tiếp tục theo dõi tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời phát hiện và hướng dẫn xử lý các vướng mắc trong thi hành. Chủ động phản ứng chính sách pháp luật, phát hiện, xử lý các văn bản trái pháp luật, không phù hợp với thực tiễn, nhất là các vấn đề pháp lý liên quan đến người dân, doanh nghiệp; khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết.
- Đánh giá tác động kỹ lưỡng trong việc sửa đổi bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm giải quyết được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành Luật thời gian qua.
- Thực hiện tốt công tác kiểm tra, kịp thời xử lý văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền, tập trung xử lý triệt để các văn bản trái pháp luật đã được phát hiện và kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với người tham mưu ban hành văn bản trái pháp luật. Đảm bảo tiến độ, chất lượng trong công tác rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.