Quy định của pháp luật về kiến nghị về luật, pháp lệnh, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội và ý kiến của Chính phủ đối với kiến nghị xây dựng luật của Đại biểu Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

Quy định của pháp luật về kiến nghị về luật, pháp lệnh, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội và ý kiến của Chính phủ đối với kiến nghị xây dựng luật của Đại biểu Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh

I. Quy định của pháp luật về việc kiến nghị kiến nghị về luật, pháp lệnh, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội
Trong hoạt động lập pháp, quyền kiến nghị và trình dự án luật và pháp lệnh là một quyền rất quan trọng, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả và kết quả của hoạt động lập pháp. Cùng với việc trao quyền trình dự án luật, pháp lệnh cho Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận, Điều 84 Hiến pháp 2013 còn quy định quyền này cho Đại biểu Quốc hội,theo đó: “Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật, pháp lệnh và dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.” Như vậy, Quyền của đại biểu Quốc hội tham gia xây dựng các dự án luật có nội dung rộng hơn so với quyền này của các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Cụ thể, ngoài quyền trình các dự án luật giống như các chủ thể khác, đại biểu Quốc hội còn có quyền kiến nghị về luật.
Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sáng kiến lập pháp của đại biểu Quốc hội, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã quy định về quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội tại các điều 33, 34, 35, 36, 37 của Luật. Theo đó:
Về Quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội, tại Điều 33 quy định:
-  Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh. Việc kiến nghị về luật, pháp lệnh phải căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; cam kết trong điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh được lập theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật này.
- Đại biểu Quốc hội có quyền tự mình hoặc đề nghị Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp hỗ trợ trong việc lập văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh, hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo quy định tại Điều 37 của Luật này.
-  Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cần thiết để đại biểu Quốc hội thực hiện quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh, quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.
Qua nội dung tại Điều 33 cho thấy: Đã quy định rõ quyền được kiến nghị và đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đồng thời có cơ chế để bảo đảm Đại biểu Quốc hội được thực hiện tốt nhất quyền này của mình.
Từ Điều 34 đến Điều 37 Luật quy định về trách nhiệm, trình tự thực hiện việc kiến nghị, lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Đại biểu Quốc hội, theo đó:
Đối với về việc lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm như sau:
1. Trước khi lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, đại biểu Quốc hội tiến hành hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành các hoạt động sau đây:
- Tổng kết việc thi hành pháp luật có liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.
- Tổ chức nghiên cứu khoa học về các vấn đề liên quan để hỗ trợ cho việc lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Trong trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.
- Xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; đánh giá tác động của chính sách. Đại biểu Quốc hội tự mình hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Nội dung đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ: vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải pháp để thực hiện chính sách; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do của việc lựa chọn; đánh giá tác động thủ tục hành chính, tác động về giới (nếu có). Đại biểu Quốc hội khi đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm nghiên cứu, soạn thảo dự thảo báo cáo đánh giá tác động; lấy ý kiến góp ý, phản biện dự thảo báo cáo; tiếp thu, chỉnh lý dự thảo báo cáo.
- Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua.
2. Chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo đó, hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm: (1) Tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, trong đó phải nêu rõ: sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh; mục đích, quan điểm xây dựng luật, pháp lệnh; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh; mục tiêu, nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn và lý do của việc lựa chọn; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua; thời gian dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh; (2) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; (3) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; (4) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và ý kiến của các cơ quan, tổ chức khác; (5) Bản chụp ý kiến góp ý; (6) Đề cương dự thảo luật, pháp lệnh.
3. Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý.
- Đại biểu Quốc hội lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm đăng tải báo cáo tổng kết, báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội; thời gian đăng tải ít nhất là 30 ngày.
- Lấy ý kiến Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và giải pháp thực hiện chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Trong trường hợp cần thiết, tổ chức họp để lấy ý kiến về những chính sách cơ bản trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý, cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm góp ý bằng văn bản về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đến cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội lập đề nghị.
- Tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu trên cổng thông tin điện tử của Quốc hội.
4. Đại biểu Quốc hội đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh còn có trách nhiệm lấy ý kiến của Chính phủ và nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Chính phủ.
Đối với kiến nghị về luật, pháp lệnh, yêu cầu văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vi điều chỉnh, mục đích, yêu cầu ban hành, quan điểm, chính sách, nội dung chính của luật, pháp lệnh.
Như vậy, qua các quy định pháp lý nêu trên cho thấy: Pháp luật của ta đang đi theo hướng nâng cao vai trò và mở rộng quyền hạn của đại biểu Quốc hội trong quá trình xây dựng các dự án luật, pháp lệnh. Các quy định về vai trò và sự tham gia của đại biểu Quốc hội trong quá trình xây dựng dự án luật, pháp lệnh được ghi nhận trong các văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nước ta: Hiến pháp, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là các quyền rất quan trọng của đại biểu Quốc hội tạo điều kiện cho đại biểu Quốc hội tham gia vào quá trình xây dựng dự án luật, pháp lệnh, tham gia vào hoạt động lập pháp.
II. Ý kiến của Chính phủ đối với kiến nghị xây dựng luật của Đại biểu Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh
Ngày 29/02/2020, Chính phủ nhận được văn bản của Đại biểu Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh về việc đề nghị, kiến nghị các dự án luật bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan có liên quan chuẩn bị ý kiến của Chính phủ đối với kiến nghị, đề nghị xây dựng luật của Đại biểu.
1. Về kiến nghị xây dựng các dự án luật
Đại biểu Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh kiến nghị đưa 05 dự án luật vào Chương trình năm 2021, bao gồm: (1) Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (sửa đổi) hoặc Luật Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; (2) Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi); (3) Luật Nghi lễ, Nghi thức, Quốc phục, Quốc hoa Việt Nam; (4) Luật Bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp ở Việt Nam; (5) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thủ đô.
Văn bản kiến nghị của Đại biểu phần nào đã thể hiện được sự cần thiết phải xây dựng các dự án luật nêu trên, phần nào đáp ứng được các yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015. Chính phủ đã ghi nhận và đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự nghiên cứu công phu của Đại biểu Quốc hội trên cơ sở những chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, ý kiến của cử tri và tình hình kinh tế - xã hội của đất nước ta hiện nay, để từ đó có những đề xuất trong công tác xây dựng pháp luật, nhất là 05 dự án Luật mà Đại biểu đã nêu. Tuy nhiên, để có thể đưa các dự án luật này vào Chương trình thì Chính phủ phải lập đề nghị xây dựng các dự án luật theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Theo đó, phải làm rõ sự cần thiết ban hành luật; mục đích, quan điểm xây dựng luật; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật; mục tiêu, nội dung của chính sách, các giải pháp và lý do của việc lựa chọn giải pháp để thực hiện chính sách đó; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật sau khi được thông qua; thời gian dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua; đồng thời, cần tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến đề nghị xây dựng luật, đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật. Trên cơ sở kiến nghị của Đại biểu, Thủ tướng Chính phủ đã giao các Bộ phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan xem xét, nghiên cứu, đánh giá về sự cần thiết (Công văn số 3696/VPCP-PL ngày 11/5/2020 của Văn phòng Chính phủ). Trường hợp thấy cần thiết phải ban hành thì sẽ tiến hành lập đề nghị xây dựng dự án luật theo đúng quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trình Chính phủ xem xét, quyết định để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.
2. Về đề nghị xây dựng Luật Về dịch vụ công
Đại biểu đề nghị xây dựng Luật Về dịch vụ công, Tờ trình về việc xây dựng dự án Luật về Dịch vụ công của đại biểu Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh cho biết, dịch vụ công có vị trí, vai trò quan trọng, không thể thiếu được trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện chưa có Luật về Dịch vụ công, chưa thể chế hóa đầy đủ chủ trương trên đây của Đảng. Điều đó, dẫn đến những khó khăn trong quản lý, điều hành của các  cơ quan hành chính ở các cấp, không có sự thống nhất trong quan niệm và đánh giá, thực hiện dịch vụ công trong các tầng lớp cán bộ, nhân dân. Đặc biệt, nó cho thấy “khoảng trống pháp lý” và sự mâu thuẫn, chồng chéo của hệ thống pháp luật về dịch vụ công bộc lộ rõ rệt trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam những năm qua. Đại biểu nhấn mạnh, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đã và đang là xu hướng tất yếu tác động mạnh mẽ đến quản lý, quản trị công, cung ứng dịch vụ công quốc gia và xuyên quốc gia. Chính phủ đang tiến hành xây dựng Chính phủ điện tử, Cổng dịch vụ công quốc gia, hướng đến Chính phủ số. Vì vậy, xây dựng Luật về dịch vụ công trong tình hình hiện nay, góp phần khắc phục những bất cập và thúc đẩy đổi mới, đồng hành cùng Chính phủ, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Chính phủ quản lý, điều hành nền hành chính quốc gia và cung ứng dịch vụ công hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu của người dân và doanh nghiệp. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới có nền kinh tế thị trường từ những năm 80 của thế kỷ trước, mục tiêu cải cách được xác định rõ là chuyển phần lớn nhiệm vụ quản lý xã hội của chính phủ sang cho khu vực tư và xã hội hóa dịch vụ công. Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng nhất trong đảm bảo cung cấp dịch vụ công, nhưng không nhất thiết phải là người trực tiếp cung cấp tất cả các dịch vụ đó. Vai trò của nhà nước quy định rõ trong đẩy mạnh quản lý cung ứng dịch vụ công bằng luật pháp, chính sách (gồm: Anh, Mỹ, Canada, Autralia, New Zealand, Kazaxtan…). Pháp luật nhiều nước quy định phân loại dịch vụ công thành dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích. Dịch vụ công được toàn xã hội tiến hành (nhất là dịch vụ sự nghiệp công); nhà nước chỉ giữ lại những dịch vụ cần thiết nhất trong dịch vụ hành chính công và một số lĩnh vực dịch vụ công ích (như: Bưu điện, cứu hỏa, cứu hộ, phòng chống thiên tai…). Ở Việt Nam hiện nay thực hiện cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi có những cơ chế mới, phù hợp với đặc thù Việt Nam. Hệ thống pháp luật về kinh tế, tài chính, đầu tư công, tài sản công, doanh nghiệp ...nhìn chung có nhiều đổi mới. Trong khi đó, hệ thống pháp luật về dịch vụ công chưa được quan tâm nghiên cứu, quy định ở tầm luật một cách đồng bộ, thống nhất, cụ thể, nên việc quản lý, điều hành, cung ứng dịch vụ công còn nhiều khó khăn, hạn chế; chưa có quy định về nguyên tắc phải có sự kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu trong thực hiện dịch vụ công giữa các cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân trong dịch vụ công trực tuyến, khiến cho nhiều quy định của pháp luật Việt Nam còn bất cập, nhất là vấn đề cung ứng dịch vụ công. Vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc hoàn thiện pháp luật, xây dựng dự án Luật về dịch vụ công trong bối cảnh hiện nay góp phần thúc đẩy hội nhập quốc tế của Việt Nam, là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết. Việc xây dựng Luật về dịch vụ công với mục đích trình Quốc hội xem xét thông qua một văn bản pháp lý có giá trị cao ở tầm luật để cùng với hệ thống pháp luật đã được ban hành thời gian qua nhằm thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp công lập; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quản lý hành chính nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện xã hội hóa việc cung ứng dịch vụ công trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa; xác định rõ hơn mối quan hệ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện dịch vụ công; thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội bền vững, bảo đảm quốc phòng- an ninh và hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở hồ sơ đề nghị xây dựng luật của Đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã có ý kiến cụ thể đối với đề nghị này, theo đó:
Liên quan đến vấn đề dịch vụ công: Ban Chấp hành Trung ương (khoá XII) đã ban hành nhiều nghị quyết có liên quan đến vấn đề dịch vụ công([1]); trong phạm vi trách nhiệm của mình, Chính phủ đang tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách, định hướng lớn đã được Trung ương quyết định, trong đó có việc hoàn thiện thể chế, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ công trên các lĩnh vực.
Đối với hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Về dịch vụ công: hồ sơ này được xây dựng trên cơ sở kế thừa hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Hành chính công do Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh chuẩn bị. Đề nghị xây dựng Luật Hành chính công trước đây dự kiến điều chỉnh 3 vấn đề: (1) Thủ tục hành chính; (2) Dịch vụ công; (3) Trách nhiệm, mối quan hệ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính và dịch vụ công. Đối với nội dung liên quan đến vấn đề về dịch vụ công được dự kiến điều chỉnh trong đề nghị xây dựng Luật này đã được Chính phủ cho ý kiến tại Công văn số 343/CP-PL ngày 23/8/2018 và gửi Ban soạn thảo dự án Luật Hành chính công. Ngày 18/8/2018, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến dự án Luật Hành chính công. Tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 14, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho dừng, không xây dựng Luật Hành chính công.
Về sự cần thiết, phạm vi điều chỉnh và nội dung của đề nghị xây dựng luật: về vấn đề dịch vụ công hiện nay được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, liên quan đến nhiều lĩnh vực như Luật Đấu thầu, Luật Công chứng…, các nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ… Trong khi đó, hồ sơ đề nghị xây dựng dự án Luật Về dịch vụ công chưa thể hiện rõ sự cần thiết xây dựng Luật, nhất là trong bối cảnh Chính phủ đang triển khai nhiều biện pháp, giải pháp để thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, cũng như triển khai thi hành các luật, nghị quyết của Quốc hội về đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công. Hồ sơ đề nghị cũng chưa làm rõ, chưa giải quyết được mối quan hệ giữa Luật này với các luật chuyên ngành có liên quan để bảo đảm sự không chồng chéo, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật; chưa có đánh giá tác động của chính sách trên các khía cạnh kinh tế, xã hội và hệ thống pháp luật; thiếu dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành Luật.
Về trình tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng dự án Luật: đề nghị xây dựng Luật chưa được thực hiện đầy đủ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, một số hoạt động bắt buộc phải thực hiện nhưng chưa được tiến hành như đánh giá tác động của chính sách; đăng tải hồ sơ đề nghị trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội; lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, Chính phủ đã đề nghị Đại biểu tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện đề nghị xây dựng Luật Về dịch vụ công, trong đó cần làm rõ sự cần thiết ban hành, phạm vi điều chỉnh, mối quan hệ với các luật hiện hành liên quan, đánh giá tác động các chính sách, thực hiện các quy trình, thủ tục theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Trên cơ sở đó, hoàn hiện hồ sơ để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội xem xét, quyết định.
Kết luận: Quyền của đại biểu Quốc hội trình hoặc kiến nghị dự án luật, pháp lệnh là những quyền rất cơ bản và đặc trưng của hoạt động đại biểu. Hệ thống luật pháp của ta hiện nay quy định tương đối đầy đủ về quyền của đại biểu Quốc hội về sáng kiến lập pháp. Thực hiện tốt các quyền này của đại biểu Quốc hội sẽ phát huy được trí tuệ của Quốc hội, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên cần có các phương pháp, biện pháp phù hợp trong tổ chức thực hiện. Ủy ban thường vụ Quốc hội nên có định hướng khuyến khích đại biểu Quốc hội trình các dự án luật, pháp lệnh hoặc chủ trì soạn thảo dự án luật, pháp lệnh. Trước mắt nên bắt đầu từ các dự luật, pháp lệnh đơn giản, không phức tạp, việc kiến nghị, lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh cần thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục đã được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; trong quá trình thực hiện Đại biểu nên đề nghị Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp hỗ trợ trong việc lập văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh, hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh để đảm bảo chất lượng. Thực hiện tốt quy định này sẽ là một bảo đảm tốt thể hiện tính nhân dân, ý chí của nhân dân trong hệ thống luật pháp của nước ta.
Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp
 

([1])  Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 3/6/2017 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp công lập.