Vị trí, vai trò của Bộ Tư pháp trong việc giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

Vị trí, vai trò của Bộ Tư pháp trong việc giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật

1. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật
Quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích đến các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật bằng hệ thống luật pháp và bộ máy của mình nhằm điều chỉnh và mục đích để các hoạt động đó diễn ra và phát triển trong khuôn khổ của pháp luật.
Hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng, giúp cho các văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng một cách đúng hướng, phù hợp của nội dung chính sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính đồng bộ thống nhất với hệ thống pháp luật và tính khả thi, và đảm bảo tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Mục đích của quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật là nhằm xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, dễ tiếp cận, dễ thực hiện bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính đồng bộ thống nhất với hệ thống pháp luật, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, thực hiện kiểm soát chất lượng văn bản bằng các công cụ được pháp luật cho phép như kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, yêu cầu xử lý văn bản được ban hành trái pháp luật hoặc xử lý văn bản ban hành trái pháp luật theo thẩm quyền.
Chủ thể quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật tiến hành các hoạt động cần thiết để thực hiện tốt chức năng quản lý như: xây dựng thể chế về xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành các pháp luật về xây dựng pháp luật, xây dựng và thực thi các Chiến lược, Kế hoạch xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; hướng dẫn các biện pháp về tổ chức, triển khai thi hành luật và các văn bản hướng dẫn thi hành để bảo đảm chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ xây dựng chính sách, soạn thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; tổng kết, đánh giá, tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật.
2. Quy định của pháp luật về  quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật
Kể từ khi được thành lập năm 1945, giải thể rồi tái thành lập, cùng với quá trình phát triển thăng trầm của đất nước, Bộ Tư pháp luôn thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật là một trong những chức năng cơ bản của Bộ Tư pháp đã được ghi nhận ngay tại văn bản pháp lý đầu tiên đánh dấu sự tái lập Bộ Tư pháp đó là Nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức Bộ Tư pháp. Có thể nói, với các quy định cụ thể về chức năng nhiệm vụ cũng như cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, Nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 là một mốc lịch sử, tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên cho hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp.
Tất cả các văn bản pháp luật quy định về  vị trí pháp lý của Bộ Tư pháp từ trước đến nay, trừ văn bản đầu tiên (Nghị định số 37 ngày 01/12/1945) đều quy định Bộ Tư pháp có chức năng giúp Chính phủ quản lý công tác xây dựng pháp luật. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, vai trò của Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật ngày càng được mở rộng và tăng cường. Với vị trí là một cơ quan của Chính phủ, Bộ Tư pháp có nhiệm vụ tương tự như của các bộ khác trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đó là chủ trì soạn thảo các luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng và xây dựng văn bản liên tịch. Bên cạnh đó, thực hiện chức năng, nhiệm vụ là cơ quan “gác cổng” giúp Chính phủ quản lý công tác xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp còn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng pháp luật thông qua tổ chức pháp chế của các Bộ, ngành, địa phương.
Chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp tiếp tục được quy định rõ tại nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp. So với nhiệm vụ quyền hạn quản lý công tác xây dựng pháp luật được quy định tại Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 thì Bộ Tư pháp được giao thêm hai nhiệm vụ, đó là chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ chuẩn bị ý kiến của Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình và ý kiến của Chính phủ đối với kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật; chuẩn bị ý kiến của Chính phủ đối với dự án luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ và lập danh mục văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; thông báo cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về danh mục các nội dung giao cho địa phương quy định chi tiết và lập danh mục văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; thông báo cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về danh mục các nội dung giao cho địa phương quy định chi tiết.
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 9 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016 (sau đây gọi là Luật năm 2015). Với tính chất là một “Luật về làm luật”, Luật năm 2015 là một đạo luật rất quan trọng trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Bên cạnh việc kế thừa các quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 về nhiệm vụ của Bộ Tư pháp trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật (giúp Chính phủ lập đề nghị chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm; thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật…), Luật năm 2015 đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm nâng cao vị trí, vai trò của Bộ Tư pháp trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật như giao Bộ Tư pháp chủ trì thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định của Chính phủ; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan chuẩn bị ý kiến của Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình…
Cùng với Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, vai trò của Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật được khẳng định rõ nét thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật năm 2015. Theo các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp trong lĩnh vực xây dựng và thi hành pháp luật tiếp tục được tăng cường, mở rộng, đặc biệt là công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng khẳng định vai trò, trách nhiệm cũng như tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Bộ Tư pháp thực hiện hiệu quả hơn chức năng giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật trên phạm vi toàn quốc.
3. Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp tiến hành thực hiện các hoạt động sau:
- Xây dựng chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình xây dựng và ban hành VBQPPL nhằm nâng cao chất lượng VBQPPL.
- Thẩm định, tham gia xây dựng, góp ý đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình và đề nghị xây dựng nghị định; lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm đối với các vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; dự kiến cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp soạn thảo dự án luật, pháp lệnh trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chương trình.
- Lập danh mục văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; thông báo cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về danh mục các nội dung giao cho địa phương quy định chi tiết.
-  Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương theo quy định của pháp luật. Trong nội dung quản lý này, Bộ Tư pháp tổ chức các hoạt động sau:
+ Biên soạn các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật cho cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật ở cả Trung ương và địa phương;
+ Tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên toàn quốc về kiến thức, phương pháp và kỹ năng xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách, thẩm định chính sách, soạn thảo, thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật…
+ Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho các Bộ, ngành, địa phương qua điện thoại, công văn hướng dẫn nghiệp vụ; giải đáp vướng mắc trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; hướng dẫn quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất, pháp điển văn bản quy phạm pháp luật.
+ Kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ cho bộ, ngành, địa phương. Hằng năm, Bộ Tư pháp tổ chức các cuộc kiểm tra công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của bộ, ngành, địa phương; chấn chỉnh công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật kết hợp hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.
+ Tổ chức các hội thảo, tọa đàm để tìm các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng pháp luật.
Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương là hoạt động cuối cùng trong chuỗi các hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp và cũng là để đánh giá những tồn tại, bất cập trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật để từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng của hoạt động này.
- Thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước khác như rà soát người làm công tác xây dựng pháp luật ở bộ, ngành, địa phương để có chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực cho người làm công tác xây dựng pháp luật; xây dựng Trang thông tin điện tử về xây dựng pháp luật để cập nhật các tin bài về hoạt động xây dựng pháp luật trên phạm vi cả nước; hướng dẫn nghiệp vụ về công tác xây dựng pháp luật…
4. Kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật
4.1. Kết quả đạt được
Thời gian qua, Bộ Tư pháp đã thực hiện tương đối hiệu quả công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Bộ đã tiếp tục thực hiện hiệu quả các quy chế, chương trình phối hợp đã ký với các cơ quan và tiếp tục ký kết, triển khai các quy chế phối hợp với các Bộ, ngành khác trong các lĩnh vực như kiểm tra văn bản với xây dựng văn bản và phổ biến, giáo dục pháp luật.
Bộ Tư pháp thường xuyên đôn đốc, làm việc với các Bộ, ngành nợ đọng nhiều văn bản; tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; qua công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật tìm ra các giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội tổ chức các hội nghị, hội thảo để đánh giá về công tác xây dựng pháp luật. Nhờ đó, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm được thực hiện tương đối hiệu quả; tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh đã giảm đáng kể; chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được nâng cao.
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp các cơ quan có liên quan tổ chức các hội nghị phổ biến quán triệt các văn bản về xây dựng pháp luật, đặc biệt là tổ chức Hội nghị tập tuấn chuyên sâu Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 tại ba miền Bắc, Trung, Nam cho cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật ở bộ, ngành, địa phương.
Bộ Tư pháp tổ chức xây dựng các Sổ tay, các cẩm nang về xây dựng pháp luật (như: kỹ năng xây dựng chính sách, kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật,  kỹ năng thẩm định, kỹ năng đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp luật, sách hỏi đáp nghiệp vụ) và nhiều lớp bồi dưỡng theo chuyên đề nhằm cung cấp các kỹ năng cho người làm công tác xây dựng pháp luật như kỹ năng đánh giá tác động của chính sách, soạn thảo, thẩm định; kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật...
Nhận thức được tầm quan trọng trong quản lý nhà nước và để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã phát triển “những cánh tay nối dài” của mình tại các Bộ, ngành là các Vụ pháp chế và các Sở Tư pháp tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bộ phận pháp chế tại các cơ quan chuyên môn để cùng với Bộ thực hiện tốt chức năng quản lý như đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
4.2. Tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp còn tồn tại một số còn hạn chế như:
- Chất lượng công tác phổ biến, tập huấn của Bộ Tư pháp chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đặt ra, vẫn còn  tình trạng chạy theo số lượng để bảo đảm hoàn thành kế hoạch; việc biên soạn, phát hành tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng, ban hành, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật  của Bộ Tư pháp còn chưa kịp thời.
- Việc bố trí các đoàn kiểm tra về công tác xây dựng pháp luật tại các Bộ, ngành địa phương còn nhiều dù hằng năm Bộ Tư pháp đều ban hành kế hoạch kiểm tra, tổ chức hội thảo, tọa đàm để kết hợp nhiều hoạt động, giảm phiền hà cho địa phương; chưa tổ chức được các đoàn kiểm tra riêng về công tác xây dựng pháp luật nên khó tập trung tháo gỡ được khó khăn, vướng mắc trong công tác xây dựng pháp luật cho bộ, ngành, địa phương.
- Tình trạng chậm hướng dẫn nghiệp vụ, chuyên môn, trả lời kiến nghị của các đơn vị vẫn còn; có trường hợp nội dung hướng dẫn, trả lời còn chung chung, chưa sát thực tế.
 - Việc kiểm tra công tác xây dựng pháp luật ở bộ, ngành, địa phương vẫn còn tình trạng chồng chéo về nội dung, địa bàn; tổ chức các hội nghị, hội thảo còn tập trung nhiều vào những tháng cuối năm, đã ảnh hưởng đến thời gian giải quyết công việc chung. Chưa có nhiều cải tiến đáng kể trong công tác báo cáo, thống kê; còn tình trạng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương báo cáo quá nhiều.
 4.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
4.3.1. Nguyên nhân khách quan
Một là, thể chế quy định về công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật còn thiếu, chưa rõ, còn tản mạn, chủ yếu được quy định trong Luật năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp.
Hai là, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật và làm công tác xây dựng pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương còn thiếu so với nhu cầu, khối lượng công việc được giao; năng lực, trình  độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất là khả năng phân tích, dự báo, xây dựng chính sách, kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật  chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, việc tham mưu cho lãnh đạo đôi khi chưa đúng, thậm chí còn cứng nhắc, máy móc. Đội ngũ cán bộ pháp chế còn mỏng, kiêm nhiệm nhiều việc; một số địa phương sử dụng biên chế pháp chế để tuyển dụng cho những vị trí việc làm khác; tỷ lệ cán bộ pháp chế ở các địa phương chưa có trình độ cử nhân luật còn cao.
Ba là, chế độ cho cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về  xây dựng pháp luật còn hạn chế,  phương tiện, hạ tầng kỹ thuật khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ thông tin phục vụ hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp còn ít và chưa được quan tâm đúng mức. Chưa có sự đột phá trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xây dựng pháp luật để giảm tải công việc cho người làm công tác xây dựng pháp luật ở bộ, ngành, địa phương. Kinh phí dành cho công tác xây dựng pháp luật còn thấp.
4.3.2. Nguyên nhân chủ quan
- Một số đơn vị thuộc Bộ, ngành còn chưa chủ động, chậm triển khai công việc, kể cả một số nhiệm vụ trọng tâm; chất lượng tham mưu còn hạn chế;
- Một số tổ chức pháp chế, Sở Tư pháp chưa tham mưu kịp thời, đầy đủ cho Lãnh đạo các Bộ, ngành và cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác tư pháp, pháp chế và xử lý các vấn đề phát sinh từ thực tiễn thi hành pháp luật. Bên cạnh đó, một số Bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm, phát huy hiệu quả vai trò tham mưu của cơ quan tư pháp, pháp chế, nhất là trong công tác soạn thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật.
- Một số Bộ, ngành, địa phương chưa quan tâm, phố hợp chặt chẽ trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Còn tư tưởng ngại thay đổi, nhất là trong ứng dụng, khai thác các thế mạnh của công nghệ thông tin, trong cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, đổi mới lề lối làm việc.
5. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật trong thời gian tới
Nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp với tư cách là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật theo hướng cần có chủ trương, biện pháp đồng bộ để bảo đảm chất lượng và tiến độ của hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện quy định của pháp luật về công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật khi sửa đổi Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Nghị định số 96/2017/NĐ-CP.
Hai là, nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác phối hợp liên ngành trong xây dựng pháp luật và quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Để làm được như vậy thì cần quy định rõ cơ chế phối hợp liên ngành giữa Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan Trung ương; cơ chế phối hợp cụ thể trong nội bộ Chính phủ, giữa Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật.
Ba là, làm tốt hơn nữa công tác hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương. Bộ Tư pháp cần xây dựng kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng và kiểm tra hiệu quả, tăng cường xuất bản các sổ tay, cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong công tác xây dựng pháp luật.
Bốn là, nghiên cứu xây dựng Chiến lược thu hút, đào tạo, bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, công tác xây dựng pháp luật; thu hút người thật sự có năng lực, phẩm chất và đạo đức, tâm huyết đối với công tác xây dựng pháp luật, quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật; sử dụng, trọng dụng, bố trí công việc phù hợp với trình độ chuyên môn, kỹ năng để tăng động lực làm việc cho đội ngũ công chức, làm cho họ thêm yêu ngành, yêu nghề, vừa hồng, vừa chuyên, tránh trường hợp “chảy máu chất xám”; có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ công chức đang làm công tác xây dựng pháp luật và quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật.
Năm là, tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất gắn với ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật; bố trí kinh phí hợp lý dành riêng cho các hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi cho người làm công tác xây dựng pháp luật và pháp chế.
Hiện đại hoá phương thức và phương tiện xây dựng pháp luật. Khai thác, ứng dụng tối đa thành tựu của khoa học, kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin nhằm đổi mới phương pháp, tiến độ, chất lượng và hiệu quả chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Tăng cường hơn nữa việc áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình xây dựng văn bản để tổ chức, cá nhân có thể tham gia ý kiến trực tiếp, phản biện trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Hoàn thiện cơ sơ dữ liệu quốc gia về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ngành, lĩnh vực và cung cấp thông tin thường xuyên, liên tục để đáp ứng cho người có nhu cầu khai thác, sử dụng.
Đào Thị Hồng Minh, Vụ VĐCXDPL