1. Tình hình tổ chức của tổ chức pháp chế ở Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước hiện nay
Ngày 04/7/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55/2011/NĐ-CP). Nghị định là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao vị trí, vai trò của công tác pháp chế, củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế, tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ pháp chế từ Trung ương đến địa phương nói riêng.
Thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP của Chính phủ, công tác xây dựng, củng cố kiện toàn tổ chức pháp chế và đội ngũ cán bộ pháp chế ở các Bộ, ngành, địa phương có nhiều chuyển biến về số lượng và chất lượng. Cụ thể là:
1.1. Về tổ chức pháp chế
Được sự quan tâm của lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương trong việc có các giải pháp để kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức pháp chế, đáp ứng yêu cầu mới, phù hợp với các quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, hệ thống tổ chức pháp chế đã được thành lập và ngày càng được củng cố và kiện toàn.
Đến nay, 20/21 Bộ, cơ quan ngang Bộ đã thành lập Vụ/Cục Pháp chế, một số cơ quan thuộc Chính phủ đã thành lập Vụ Pháp chế (Bảo hiểm xã hội Việt Nam) hoặc Phòng Pháp chế hoặc lồng ghép công tác pháp chế với công tác thanh tra, tổng hợp trong cơ cấu các phòng/ban. Ở các Tổng cục và tương đương, các Cục trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ có tổ chức pháp chế chuyên trách (Vụ, Phòng Pháp chế) hoặc phân công công tác này cho Văn phòng làm đầu mối thực hiện.
Ở các địa phương, hiện nay cả nước có 80 Phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, trong đó có 49 Phòng Pháp chế được thành lập theo khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và có 31 Phòng Pháp chế thành lập theo khoản 2 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Ở các doanh nghiệp nhà nước, có 19/21 doanh nghiệp nhà nước ở Trung ương đã hình thành tổ chức pháp chế độc lập.
1.2. Về đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế
Thống kê đến đầu năm 2020, cả nước có 8546 người làm công tác pháp chế, trong đó tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có 4173 người làm công tác pháp chế, trong đó có 1617 người chuyên trách, chiếm 38,7%, 2556 người làm công tác pháp chế kiêm nhiệm, chiếm tỷ lệ 61,3%; có 3096 người có trình độ cử nhân Luật, chiếm 74,3%, 736 người chưa có trình độ cử nhân luật, chiếm 17,6%, 341 người có trình độ dưới Đại học, chiếm 8,1%.
Tại các địa phương, hiện có 2242 người làm công tác pháp chế, trong đó có 466 người được bố trí làm công tác pháp chế chuyên trách, chiếm tỷ lệ 20,8%, 1776 người làm công tác pháp chế kiêm nhiệm, chiếm tỷ lệ 79,2%. Về trình độ: có 1205 người có trình độ cử nhân Luật, chiếm tỷ lệ 53,75%, có 987 người chưa có trình độ cử nhân luật, chiếm tỷ lệ 44% và 50 người có trình độ dưới Đại học, chiếm tỷ lệ 2,25%.
Bên cạnh đó, tại các doanh nghiệp nhà nước hiện có 1801 người làm công tác pháp chế, trong đó có 475 người làm công tác pháp chế chuyên trách, chiếm tỷ lệ 26,4% và 1326 người làm công tác pháp chế kiêm nhiệm, chiếm tỷ lệ 73,6%. Về trình độ chuyên môn, có 642 người trình độ cử nhân Luật, chiếm tỷ lệ 35,6%, số người chưa có trình độ của nhân luật là 1059 người, chiếm 58,8%, có 100 người có trình độ dưới Đại học (chủ yếu là doanh nghiệp ở địa phương), chiếm tỷ lệ 5,6%. Cụ thể: doanh nghiệp nhà nước ở trung ương có 1343 người làm công tác pháp chế, trong đó có 367 người làm công tác pháp chế chuyên trách, 976 người làm công tác pháp chế kiêm nhiệm; doanh nghiệp nhà nước ở địa phương có 458 người làm công tác pháp chế, trong đó có 108 cán bộ chuyên trách và 350 cán bộ làm công tác pháp chế kiêm nhiệm.
Như vậy, nếu so với thời điểm năm 2012 (sau 1 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP) cả nước có gần 3500 cán bộ pháp chế thì đến năm 2020 số lượng cán bộ pháp chế tại các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp đã tăng lên hơn gấp hơn 2 lần so với năm 2012 với chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt hơn tiêu chuẩn theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Nếu so với trước (năm 2012) thì số lượng và chất lượng đội ngũ người làm công tác pháp chế đã có sự thay đổi đáng kể cả về mặt số lượng và chất lượng. Vị trí, vai trò của công tác pháp chế, người làm công tác pháp chế trong xây dựng, hoàn thiện thể chế đã được nâng lên rõ rệt, ngày càng đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền.
2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân về chất lượng nhân lực làm công tác pháp chế
2.1. Tồn tại, hạn chế
- Việc kiện toàn tổ chức pháp chế chưa đáp ứng được yêu cầu của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Ở nhiều địa phương chưa thành lập tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thậm chí có nơi không có biên chế hoặc chỉ bố trí cán bộ kiêm nhiệm công tác pháp chế. Có địa phương giao biên chế riêng để làm công tác pháp chế, nhưng khi thực hiện lại dùng biên chế được giao cho công việc khác và giao cán bộ kiêm nhiệm làm công tác pháp chế. Nhiều tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh đã được thành lập nhưng sau đó dần bị giải thể, do đó, dẫn đến sự xáo trộn về mặt tổ chức cũng như nhân lực làm công tác pháp chế.
- Mô hình tổ chức pháp chế ở các cơ quan, đơn vị được tổ chức không thống nhất. Mỗi đơn vị tổ chức theo một mô hình riêng, phù hợp với đặc thù của đơn vị mình. Vì vậy, việc phối hợp để thực hiện công tác pháp chế giữa các cơ quan, tổ chức còn gặp những khó khăn nhất định, qua đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng công việc được giao của tổ chức pháp chế, người làm công tác pháp chế.
- Nghị định số 55/2011/NĐ-CP quy định người làm công tác pháp chế phải là người có bằng cử nhân luật và trường hợp đối với người chưa có bằng cử nhân luật thì sau 5 năm, người làm công tác pháp chế phải có bằng cử nhân luật. Tuy nhiên, đến nay, vẫn còn một số lượng lớn người làm công tác pháp chế chưa có trình độ cử nhân luật. Điều này cũng ảnh hưởng đến chất lượng công tác pháp chế bởi công tác pháp chế là lĩnh vực công tác liên quan đến công tác pháp luật, đòi hỏi người làm công tác pháp chế phải am hiểu, chuyên sâu về lĩnh vực này. Bên cạnh đó, bên cạnh đội ngũ người làm công tác pháp chế có bề dày kinh nghiệm thì phần lớn đội ngũ người làm công tác pháp chế còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
- Công tác pháp chế liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, tuy nhiên, ở một số lĩnh vực chuyên sâu như tài chính, ngân hàng, khoa học công nghệ, v.v… đòi hỏi người làm công tác pháp chế phải được trang bị thêm các kiến thức chuyên ngành, trong khi đó, phần lớn người làm công tác pháp chế chỉ được đào tạo kiến thức pháp luật thuần túy, vì vậy, chất lượng công việc của người làm công tác pháp chế chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
- Có tình trạng ở một số cơ quan, đơn vị việc sử dụng, phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức pháp chế còn hạn chế, chưa phát huy được tiềm năng của đội ngũ hiện có, điều này vẫn còn tồn tại ở một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Vẫn còn tình trạng một số Sở, ngành phân công thực hiện công việc trái với khả năng, trình độ, sở trường, ngạch bậc đang giữ; người làm công tác pháp chế ở một số địa phương là kiêm nhiệm, do đó, công tác pháp chế được thực hiện ít mà chủ yếu là các công việc khác.
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ này còn ít được đổi mới ở địa phương, ít có nội dung về việc thực hành các kỹ năng giải quyết vấn đề, xử lý tình huống. Bên cạnh đó, chưa có các nội dung đào tạo, bồi dưỡng về văn hóa, đạo đức công vụ, ý thức thái độ phục vụ, kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế...
2.2. Nguyên nhân
a. Về mặt chủ quan
- Lãnh đạo của một số Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp chưa lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc thành lập mới hoặc củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế, bố trí cán bộ thực hiện công tác pháp chế, đặc biệt tại một số tổ chức pháp chế của các Sở, ngành thuộc UBND tỉnh và doanh nghiệp nhà nước hoạt động chỉ mang tính hình thức, chưa làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức mình theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP.
- Công tác phối hợp và chủ động nâng cao trình độ năng lực cho người làm công tác pháp chế Bộ, ngành còn hạn chế. Các lớp tập huấn nghiệp vụ nhằm tăng cường năng lực cho người làm công tác pháp chế chưa nhiều, quy mô nhỏ, trong một số trường hợp còn mang tính hình thức; nội dung tập huấn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là yêu cầu về hội nhập. Việc bố trí kinh phí cho việc tổ chức các lớp tập huấn còn nhiều khó khăn. Chương trình đào tạo cử nhân luật cho người làm công tác pháp chế văn bằng hai triển khai còn chậm.
- Một số tổ chức pháp chế và người làm công tác pháp chế còn chưa tự khẳng định được vị trí, vai trò và khả năng về chuyên môn, nghiệp vụ của mình, chất lượng tham mưu còn mờ nhạt, do đó có việc chưa nhận được sự tín nhiệm của lãnh đạo.
b. Về mặt khách quan
- Một số chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước về tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy và chính sách tiền lương, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước được ban hành sau Nghị định số 55/2011/NĐ-CP nên cũng ảnh hưởng đến việc củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế và chất lượng, hiệu quả công tác pháp chế của Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp.
- Một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không phù hợp với Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, cụ thể: Bộ Nội vụ đã ban hành các Thông tư, Thông tư liên tịch quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, trong đó, không quy định Phòng Pháp chế trong cơ cấu tổ chức của các cơ quan này nên dẫn đến hiệu quả công tác pháp chế còn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu.
- Ngoài ra, chế độ chính sách cho cán bộ, công chức pháp chế cũng chưa được quan tâm đúng mức. Theo khoản 2 Điều 12 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP thì công chức, viên chức pháp chế được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có chế độ ưu đãi dành cho đội ngũ này, do đó chưa thu hút được người có năng lực, trình độ, thâm niên, kinh nghiệm công tác vào hoạt động công tác này.
3. Đánh giá chung về chất lượng nguồn nhân lực làm công tác pháp chế thời gian qua
Cùng với sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực làm công tác pháp chế thời gian qua đã cho thấy:
- Đội ngũ người làm công tác pháp chế tại các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp được đánh giá là lực lượng rất quan trọng trong việc giúp lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và các nhiệm vụ mới được giao thêm. Những kết quả trong công tác pháp chế thời gian qua đã cho thấy vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ người làm công tác pháp chế, công tác pháp chế trong việc bảo đảm thực hiện quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp.
- Việc bố trí, sử dụng cán bộ, công chức pháp chế thời gian qua về cơ bản bảo đảm đúng ngành được đào tạo, phát huy được sở trường của cán bộ, công chức.
Nhiều cơ quan, đơn vị đã có kế hoạch rà soát, bố trí cán bộ, công chức pháp chế, bảo đảm cơ cấu, phù hợp với yêu cầu về năng lực của từng vị trí việc làm, thực hiện công tác luân chuyển, điều động cán bộ, công chức theo quy định. Hầu hết người làm công tác pháp chế đều có trình độ cử nhân luật.
- Nhiều cơ quan, tổ chức pháp chế đã tổ chức tuyển dụng, bổ sung, tăng cường thêm nhiều cán bộ, công chức trẻ, được đào tạo bài bản. Một số lãnh đạo tổ chức pháp chế đã được giao nắm giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy của các Bộ, cơ quan, doanh nghiệp.
- Các chương trình, nội dung bồi dưỡng cho cán bộ, công chức pháp chế với mục tiêu nhằm chuẩn hóa năng lực cho đội ngũ ngày đã được quan tâm đổi mới.
4. Định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực làm công tác pháp chế đến năm 2030
4.1. Bối cảnh ảnh hưởng đến nhân lực làm công tác pháp chế thời gian tới
Do tiếp tục thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về tinh giảm biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, thực hiện cải cách lương, bố trí biên chế theo vị trí việc làm; yêu cầu việc hoàn thành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ ngày càng cao, do đó, thời gian tới, dự kiến số lượng người làm công tác pháp chế có sự thay đổi như sau:
- Đối với các Bộ, ngành do đặc thù nhiệm vụ xây dựng thể chế và hoạch định chính sách trong thời gian tới là rất lớn nên số lượng người làm công tác pháp chế ở các Bộ, ngành vẫn ổn định và dự báo là sẽ tiếp tục tăng lên.
- Đối với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh dự kiến sẽ giảm, chỉ còn một lực lượng cán bộ phù hợp làm chuyên trách phụ trách công tác pháp chế theo vị trí việc làm được xác định.
- Đối với các doanh nghiệp nhà nước, số lượng người làm công tác pháp chế ở các doanh nghiệp nhà nước sẽ giảm, sau cổ phần hóa, việc sử dụng đội ngũ luật sư tư vấn sẽ chiếm ưu thế khi tham gia tư vấn cho doanh nghiệp những vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh sự toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng sâu rộng, tiến bộ khoa học diễn ra nhanh chóng và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đòi hỏi nguồn nhân lực làm công tác pháp chế hiện nay không chỉ cần nền tảng kiến thức chuyên môn luật vững chắc mà còn phải có khả năng hội nhập nhanh trong môi trường quốc tế, đồng thời, thích ứng với áp dụng công nghệ thông tin.
Yêu cầu mới của xã hội đòi hỏi người làm công tác pháp chế cần có nhiều kỹ năng mới để thích ứng với yêu cầu về tình hình mới (trang bị ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng khai thác, ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc…). Bên cạnh đó, người làm công tác pháp chế thời gian tới phải thể hiện tư duy năng lực, đổi mới và sáng tạo trong công việc được giao, thích ứng với sự chuyển biến của phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng được các yếu tố về kiến thức mới và kỹ năng mới liên tục thay đổi trong môi trường hoạt động của khoa học, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại.
4.2. Định hướng đến năm 2030
Trước bối cảnh thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước về cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và sự ảnh hưởng của xu hướng phát triển của xã hội, thời gian tới, nguồn nhân lực làm công tác pháp chế cần phát triển theo định hướng sau:
Một là, phát triển nhân lực làm công tác pháp chế phải bảo đảm gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển nhân lực làm công tác pháp chế cần mang tính chiến lược lâu dài; là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục; có trọng tâm, trọng điểm.
Hai là, cần tập trung công tác quản lý và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức pháp chế, phải gắn liền với việc bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý theo vị trí việc làm nhằm phát huy đầy đủ năng lực, phẩm chất của cán bộ, công chức, viên chức pháp chế. Phát triển nguồn nhân lực làm công tác pháp chế ngoài việc tập trung nâng cao hiệu quả đào tạo, ưu tiên xây dựng các cơ sở đào tạo luật chất lượng cao, đào tạo.
Ba là, coi đầu tư cho đào tạo nhân lực làm công tác pháp chế là đầu tư phát triển, từng bước tăng cường đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng để phát triển nhân lực làm công tác pháp chế cho các cơ quan, doanh nghiệp.
Việc phát triển nhân lực làm công tác pháp chế cần phải có tầm nhìn chiến lược phát triển tổng thể và dài hạn, nhưng trong mỗi thời kỳ nhất định cần xây dựng định hướng cụ thể, từ đó đánh giá thời cơ, thách thức, những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân để đề ra mục tiêu và giải pháp phát triển thích hợp trong từng giai đoạn, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
4.3. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực làm công tác pháp chế giai đoạn 2021-2030
Một là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về pháp chế
- Nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cho phù hợp với Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với nhiều nội dung cần sửa đổi, bổ sung quan trọng như về vị trí, vai trò của người làm công tác pháp chế, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức pháp chế, tiêu chuẩn của người làm công tác pháp chế v..v...
- Cần hoàn thiện pháp luật về đánh giá công chức, xây dựng, ban hành quy chế đánh giá công chức theo hướng lấy kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, khối lượng, chất lượng, tiến độ và hiệu quả công việc, ý thức trách nhiệm đối với công việc làm căn cứ đánh giá, xếp loại công chức.
- Cần đổi mới quy định pháp luật về khen thưởng đối với người làm công tác pháp chế trong thực thi nhiệm vụ và có chế độ khen thưởng, xử phạt nghiêm minh để đảm bảo kỷ cương và hiệu quả trong công tác quản lý.
Hai là, kiện toàn, duy trì tổ chức pháp chế
- Cần nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo về vị trí, vai trò của công tác pháp chế để từ đó dành sự quan tâm, tạo điều kiện cho công tác này trong đó có việc kiện toàn tổ chức, nhân lực làm công tác pháp chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác pháp chế. Đối với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh chỉ có người làm công tác pháp chế kiêm nhiệm, cần bố trí người làm công tác pháp chế chuyên trách, đồng thời, duy trì tổ chức pháp chế đã được thành lập ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.
- Tiếp tục phát triển nguồn nhân lực pháp chế theo hướng chuyên môn sâu ở các tổ chức pháp chế Bộ, ngành; địa phương, doanh nghiệp nhà nước.
- Các cơ quan, doanh nghiệp phải xây dựng cơ chế tuyển dụng công chức, người lao động theo vị trí việc làm; xây dựng hệ thống bản mô tả công việc phù hợp với từng vị trí việc làm của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.
Ba là, tăng cường quản lý, bố trí người làm công tác pháp chế
- Cần tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc phát triển nguồn nhân lực làm công tác pháp chế; phân định rõ trách nhiệm của từng đơn vị, từng cấp, từng ngành trong việc sử dụng, quản lý và phát triển nguồn nhân lực làm công tác pháp chế nhằm gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin về đào tạo, việc làm, thị trường lao động…làm cầu nối liên kết giữa người lao động với cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.
- Cần tuyển chọn, bố trí việc làm sau khi đào tạo phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ pháp chế, đảm bảo sự công bằng, minh bạch và phát huy hiệu quả đào tạo.
- Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, môi trường làm việc để các ứng viên phát huy tốt khả năng, kiến thức đào tạo, tạo sự gắn bó, yên tâm làm việc và mong muốn được cống hiến. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 người học cần có nhiều cơ hội học tập, với nhiều hình thức khác nhau để phát triển trình độ chuyên môn đào tạo và nghề nghiệp của bản thân.
- Phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực phát triển nguồn nhân lực xây dựng thể chế, công chức pháp chế có chuyên môn cao đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Do đó, cần có chính sách thu hút hợp lý để tạo động lực để người lao động cống hiến, gắn bó, đồng thời, các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động cần có chính sách để người lao động được rèn luyện, phát triển nghề nghiệp, kỹ năng, nghiệp vụ của bản thân.
Bốn là, đào tạo gắn với sử dụng và nâng cao chất lượng
- Đào tạo theo chương trình, lộ trình cụ thể, coi trọng việc kết hợp giữa đào tạo với giải quyết việc làm. Đối với cán bộ pháp chế doanh nghiệp có thể chú trọng hình thức đào tạo theo hợp đồng đặt hàng giữa cơ sở giáo dục với các doanh nghiệp, bảo đảm cho người học sau khi kết thúc khóa học có khả năng đảm nhận công việc.
- Bên cạnh đó, cần xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực từng giai đoạn 5 năm cho từng đối tượng để từ đó có kế hoạch tuyển sinh đào tạo cho phù hợp. Tiếp tục tổ chức đào tạo các lớp văn bằng 2 chuyên ngành luật cho đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Ngoài ra, cần mở rộng quan hệ giao lưu, trao đổi và hợp tác với các nước để đẩy mạnh liên kết đào tạo nguồn nhân lực làm công tác pháp chế. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển nhân lực để mời các chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy, hợp tác nghiên cứu, nâng cao chất lượng đào tạo cho người làm công tác pháp chế trong nước.
- Các cơ sở đào tạo luật được tuyển sinh nhiều lần trong năm tùy theo khả năng đào tạo của đơn vị, thời gian của khóa học và nhu cầu của người học. Bên cạnh đó, phương thức đào tạo cũng phải hết sức linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng cán bộ pháp chế. Đồng thời, việc đào tạo cán bộ pháp chế doanh nghiệp phải có sự gắn kết chặt chẽ với các doanh nghiệp nhằm nâng cao kỹ năng thực hành cho người học để khi tốt nghiệp ra trường, người học dễ dàng tìm kiếm được việc làm và có thu nhập ổn định.
- Các cơ sở giáo dục đào tạo cần xây dựng mối quan hệ với các doanh nghiệp tại địa phương, đẩy mạnh việc giao lưu giữa nhà trường với đơn vị sử dụng lao động nhất là các doanh nghiệp trẻ, các đơn vị khởi nghiệp để huy động sự tham gia của doanh nghiệp trong việc đào tạo các kỹ năng xử lý tình huống, xây dựng đạo đức nghề nghiệp, kết hợp việc học với thực hành nhằm đào tạo người lao động một cách toàn diện.
- Đối với đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho người đã làm công tác pháp chế: Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành cần có lộ trình cụ thể để xây dựng kế hoạch đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ pháp chế theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, theo đó, chú trọng các nghiệp vụ về xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật.... Cần chú trọng đào tạo các kỹ năng mềm cho người làm công tác pháp chế để có thể tăng chất lượng, hiệu quả các công việc được giao.
Đồng thời cũng cần quan tâm đúng mức đến việc xây dựng đội ngũ giảng viên, giáo viên chất lượng, đội ngũ quản lý có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu công việc./.
Ngô Huyền
Tài liệu tham khảo:
1. Tham luận về tình hình triển khai công tác pháp chế và theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2012.
2. Báo cáo số 162/BC-BTP ngày 28/7/2020 của Bộ Tư pháp về công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác 6 tháng cuối năm 2020.