Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động ban hành văn bản quy định chi tiết theo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động ban hành văn bản quy định chi tiết theo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật năm 2015) gồm 17 chương, 173 điều, cơ bản đã kế thừa Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 với nhiều quy định mới quan trọng, khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004. Đồng thời, thống nhất chung việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của trung ương và địa phương với nhiều điểm mới quan trọng.
Theo đó, về ban hành văn bản quy định chi tiết, tại khoản 1 và khoản 2 Điều 11 của Luật năm 2015 quy định: “1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định cụ thể để khi có hiệu lực thì thi hành được ngay. Trong trường hợp văn bản có điều, khoản, điểm mà nội dung liên quan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật và những nội dung khác cần quy định chi tiết thì ngay tại điều, khoản, điểm đó có thể giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết. Văn bản quy định chi tiết chỉ được quy định nội dung được giao và không được quy định lặp lại nội dung của văn bản được quy định chi tiết; 2. Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp. Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật năm 2015 và Điều 29 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) thì sau khi luật, pháp lệnh, nghị quyết được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua, trách nhiệm soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết thuộc về cơ quan được giao quy định chi tiết; trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc ban hành văn bản quy định chi tiết thuộc về Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp.
1. Thực tiễn việc giao nội dung quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội
Thời gian qua, thực tiễn việc luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và địa phương quy định chi tiết các nội dung trong luật, pháp lệnh, nghị quyết vẫn còn khá phổ biến. Qua rà soát các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua sau mỗi kỳ họp[1], cụ thể là tại các kỳ họp thứ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 của Quốc hội khóa XIV, Quốc hội đã thông qua 77 luật, nghị quyết, trong đó có 69/77 luật, nghị quyết (chiếm 89.61%) có các nội dung giao cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định chi tiết thi hành. Cụ thể, trong 69 luật, nghị quyết đó, Quốc hội giao Chính phủ ban hành 201 nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành 12 quyết định, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành 148 thông tư.
Kết quả rà soát, thống kê tại các Quyết định phân công của Thủ tướng Chính phủ nêu trên cho thấy: (i) Việc giao quy định chi tiết trong các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thời gian qua vẫn rất phổ biến; (ii) Chủ thể được giao quy định chi tiết các luật, pháp lệnh, nghị quyết hầu hết tập trung vào Chính phủ và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (349/361 văn bản); (iii) Tính trung bình, mỗi luật, pháp lệnh, nghị quyết có từ 04 - 05 văn bản quy định chi tiết, cá biệt, một số luật có nhiều văn bản quy định chi tiết, như: Luật Đường sắt năm 2017 (23 văn bản quy định chi tiết 39 nội dung), Luật Thủy sản (11 văn bản quy định chi tiết 49 nội dung); Luật Thi hành án hình sự năm 2019 (13 văn bản quy định chi tiết 30 nội dung); Luật Quản lý thuế năm 2019 (13 văn bản quy định chi tiết 67 nội dung); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng (05 nghị định quy định chi tiết 28 nội dung).
2. Thực tiễn thực hiện công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết
2.1. Kết quả đạt được
Nhìn chung, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm, chỉ đạo quyết liệt công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết. Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện và phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Công tác ban hành văn bản quy định chi tiết đã đạt được những kết quả nhất định, cụ thể như sau:
Trong thời gian từ tháng 01/2016 đến tháng 10/2020, tổng số văn bản quy định chi tiết mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ phải xây dựng trình, ban hành là 594 văn bản (296 nghị định, 18 quyết định, 265 thông tư, 15 thông tư liên tịch) quy định chi tiết 97 luật, pháp lệnh, nghị quyết([2]), trong đó có 110/594 văn bản là gối từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (năm 2015) sang.
Tính đến thời điểm hiện tại (ngày 23/10/2020), Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành được 488/594 văn bản (233 nghị định, 12 quyết định, 228 thông tư, 15 thông tư liên tịch). Số còn lại cụ thể như sau:
- Số văn bản nợ ban hành tính đến ngày 23/10/2020 là 22 văn bản (12 nghị định, 01 quyết định, 09 thông tư) quy định chi tiết 09 luật đã có hiệu lực.
- Số văn bản Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ còn có nhiệm vụ tiếp tục phải xây dựng, trình hoặc ban hành 84 văn bản (51 nghị định, 28 thông tư, 05 quyết định) quy định chi tiết 16 luật, nghị quyết có hiệu lực từ 01/01/2021 hoặc 01/7/2021.
Có thể thấy công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đã có sự chuyển biến rõ rệt, nhiều văn bản đã được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật, có thể kể đến như: 50 nghị định quy định chi tiết về điều kiện đầu tư kinh doanh có hiệu lực từ ngày 01/7/2016; các văn bản quy định chi tiết một số luật như Bộ luật Hàng hải, Luật Đấu giá tài sản, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; Luật Trợ giúp pháp lý…). Có thời điểm, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ không nợ ban hành văn bản quy định chi tiết (tháng 12/2017). So với các nhiệm kỳ Quốc hội trước, số văn bản nợ đã giảm nhiều. Cụ thể là tháng 10/2013, nợ 102 văn bản (thời điểm trước khi Quốc hội thông qua Nghị quyết số 67/2013/QH13 ngày 19/11/2013 của Quốc hội về việc tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành); thời điểm cuối nhiệm kỳ, Quốc hội khóa XII nợ 58 văn bản; thời điểm cuối nhiệm kỳ, Quốc hội khóa XIII nợ 39 văn bản.
2.2. Những tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, một số văn bản quy định chi tiết chưa được ban hành để có hiệu lực đồng thời với văn bản được quy định chi tiết.
Từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV đến nay, trong 488/594 văn bản được ban hành, có 226/488 văn bản được ban hành có hiệu lực cùng với thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết; 262/488 văn bản ban hành chậm và có hiệu lực thi hành chậm hơn so với thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết.
Thực tế cho thấy, có một số văn bản quy định chi tiết được ban hành và có hiệu lực khi luật đã có hiệu lực một thời gian dài, ví dụ: Nghị định quy định về kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp quy định chi tiết Luật Kế toán (Luật có hiệu lực ngày 01/01/2017 - Nghị định có hiệu lực ngày 01/4/2019) hay Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định chi tiết Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 - Nghị định có hiệu lực từ 01/7/2019)…
Thứ hai, tình trạng nợ ban hành văn bản quy định chi tiết vẫn chưa được khắc phục triệt để.
Thực tế cho thấy, nhiệm vụ giao cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản quy định chi tiết có xu hướng giảm xuống, song số lượng văn bản chậm, nợ ban hành vẫn chưa được khắc phục triệt để mà thời gian gần đây có xu hướng gia tăng. Ví dụ: Năm 2016, tổng số phải ban hành là 251 văn bản, cuối năm nợ ban hành là 14 văn bản (02 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 12 thông tư)[3]; năm 2017, tổng số phải ban hành là 191 văn bản, cuối năm nợ ban hành là 09 văn bản (09 thông tư)[4]; năm 2018, tổng số phải ban hành là 213 văn bản, cuối năm nợ ban hành là 04 văn bản (04 nghị định)[5]; năm 2019, tổng số phải ban hành là 109 văn bản, cuối năm nợ ban hành là 10 văn bản (09 nghị định, 01 quyết định)[6]. Đến ngày 01/8/2020, số nợ là 38 văn bản (23 nghị định, 01 quyết định, 01 thông tư liên tịch, 13 thông tư) quy định chi tiết 11 luật đã có hiệu lực[7].
Thứ ba, một số văn bản quy định chi tiết chưa thật sự đảm bảo chất lượng.
Một số văn bản quy định chi tiết còn có nội dung vượt quá nội dung cần quy định chi tiết được luật giao; một số quy định chi tiết chưa phù hợp với quy định của luật; chưa bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, tính khả thi của quy định. Ví dụ: Tại Báo cáo số 452/BC-CP ngày 16/10/2017 của Chính phủ báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 67/2013/QH13 của Quốc hội về việc tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có nêu: “Qua kiểm tra, Bộ Tư pháp đã phát hiện 01 văn bản trái pháp luật và cơ quan ban hành văn bản đã xử lý xong đối với 01 văn bản này. Cụ thể là Thông tư số 256/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí cấp căn cước công dân, Bộ Tư pháp đã tổ chức họp kiểm tra văn bản với Bộ Công an, Bộ Tài chính và các đơn vị liên quan vào ngày 23/12/2016 và đã kết luận văn bản có nội dung trái pháp luật và đề nghị Bộ Tài chính xử lý. Ngày 26/12/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 331/2016/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 256/TT-BTC ngày 11/11/2016 quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí cấp căn cước công dân”.
2.3. Nguyên nhân của tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết
Tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
Thứ nhất, về nguyên nhân khách quan:
- Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ phải xây dựng, ban hành một số lượng lớn VBQPPL. Bên cạnh việc tổ chức triển khai thi hành luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết, các bộ còn phải tập trung nguồn lực cho công tác soạn thảo, trình các dự án luật, pháp lệnh theo Chương trình.
- Một số luật giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng quy định chi tiết tương đối nhiều nội dung[8], khoảng thời gian từ lúc luật, pháp lệnh được thông qua đến thời điểm có hiệu lực tương đối ngắn[9];
- Một số nội dung luật giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng quy định chi tiết là những vấn đề mới, khó, phức tạp[10]; nội dung chính sách chưa rõ hoặc thiếu định hướng cụ thể về chính sách hoặc phải chờ kết quả thực hiện thí điểm chính sách, dẫn đến kéo dài thời gian soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết.
- Trình tự, thủ tục xây dựng văn bản được Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định khá chặt chẽ; thời gian lấy ý kiến cho dự thảo văn bản khá dài (thời gian đăng tải lấy ý kiến ít nhất 60 ngày), trong khi hiệu quả lấy ý kiến chưa cao.
Thứ hai, về nguyên nhân chủ quan:
- Cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng văn bản quy định chi tiết chưa thực sự chủ động, quyết liệt. Việc đầu tư thời gian, nguồn lực cho công tác xây dựng, ban hành văn bản còn hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu, tính chất phức tạp của công việc này.
- Trong giai đoạn lập đề nghị, chuẩn bị dự thảo luật, cơ quan chủ trì chưa xác định rõ những chính sách nào, những nội dung nào có thể ủy quyền, cần ủy quyền để giao ban hành văn bản quy định chi tiết.
-  Trong quá trình soạn thảo, trình, phối hợp chỉnh lý các dự án luật, pháp lệnh, các cơ quan chưa lường trước được những khó khăn trong việc soạn thảo văn bản quy định chi tiết các nội dung; bên cạnh đó vẫn còn tư duy những vấn đề mới, phức tạp chưa rõ thì không quy định trong luật mà để quy định chi tiết trong các văn bản dưới luật.
-  Sự phối hợp giữa các bộ, ngành hữu quan trong công tác xây dựng các văn bản quy định chi tiết thời gian qua có nhiều cải thiện nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả, quá trình phối hợp vẫn còn chưa chặt chẽ, dẫn đến kéo dài thời gian, nhất là kéo dài ở giai đoạn tiếp thu, chỉnh lý, giải trình ý kiến thành viên Chính phủ.
- Việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật trong xây dựng văn bản ở một số nơi còn chưa nghiêm, trong khi việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân do chậm ban hành văn bản quy định chi tiết hoặc trong văn bản quy định chi tiết có nội dung trái pháp luật còn nhiều vướng mắc. Bên cạnh đó, việc thi hành các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 liên quan đến ban hành văn bản quy định chi tiết vẫn còn hạn chế, trong đó có quy định về chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng, để trình cấp có thẩm quyền kèm theo khi trình dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.
- Việc nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định, ý kiến góp ý của các bộ, ngành và của đối tượng chịu sự tác động trong một số trường hợp chưa thực sự nghiêm túc.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ được giao chủ trì xây dựng văn bản quy định chi tiết chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của tổ chức pháp chế, đồng thời việc huy động sự tham gia của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học vào quá trình xây dựng văn bản trong một số trường hợp vẫn còn có sự hạn chế nhất định. Đội ngũ cán bộ tham gia công tác xây dựng pháp luật còn mỏng; năng lực, trình độ, nhất là kiến thức về pháp luật, kỹ năng lập pháp, lập quy còn có mặt hạn chế.
-  Cơ chế kiểm soát từ phía cơ quan lập pháp (Quốc hội) về ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết còn khá mờ nhạt. Quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP mới chỉ dừng lại ở việc quy định “trách nhiệm tự thân” của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết và trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc ban hành văn bản quy định chi tiết của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp mà chưa quy định cơ chế giám sát của Quốc hội trong quá trình soạn thảo, ban hành các văn bản quy định chi tiết. Ngoài ra, khi rà soát quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 cũng không tìm thấy cơ chế giám sát trực tiếp nào của Quốc hội đối với việc soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết của Quốc hội. Có chăng, chỉ là quy định giám sát đối với VBQPPL nói chung. Theo đó, sau khi ban hành VBQPPL, cơ quan ban hành văn bản có trách nhiệm gửi văn bản mà mình đã ban hành đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có liên quan, Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định tại Điều 7 của Luật này.
3. Một số kiến nghị, đề xuất
Từ những nhận xét, đánh giá về thực trạng công tác ban hành văn bản quy định chi tiết nêu trên, thời gian tới để khắc phục tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết, tác giả xin đưa ra một số những đề xuất kiến nghị tổng thể từ khâu lập đề nghị xây dựng văn bản đến khâu soạn thảo, thẩm định, trình và ban hành văn bản quy định chi tiết. Cụ thể:
3.1. Về công tác chỉ đạo điều hành
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng, ban hành văn VBQPPL; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phân công rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân trong việc rà soát, nghiên cứu, soạn thảo, trình ban hành VBQPPL. Thường xuyên kiểm tra, kiểm điểm rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý trách nhiệm đối với đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng chậm tiến độ và không bảo đảm chất lượng; cương quyết không xem xét khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân để xảy ra tình trạng nợ, chậm ban hành văn bản.
3.2. Bảo đảm nguồn lực cho công tác xây dựng pháp luật
Quan tâm, nâng cao năng lực đội ngũ công chức làm công tác xây dựng pháp luật, nhất là đội ngũ công chức làm công tác pháp chế ở bộ, ngành và địa phương; tiếp tục chuẩn hóa đội ngũ công chức làm công tác pháp chế ở các bộ, ngành, địa phương; triển khai các lớp đào tạo chuyên ngành luật cho đội ngũ công chức làm công tác pháp chế theo Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 13/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện triển khai Nghị quyết số 67/2013/QH13 của Quốc hội về việc tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực trình độ, kỹ năng lập pháp, lập quy cho đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động xây dựng pháp luật. Đồng thời, xem xét và bố trí nguồn kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng pháp luật nói chung và xây dựng văn bản quy định chi tiết nói riêng.
3.3. Trong quá trình xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết
- Trong giai đoạn lập đề nghị, cơ quan lập đề nghị cần dự báo và chỉ rõ nội dung chính sách sẽ ủy quyền, trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan trong việc triển khai luật, pháp lệnh, nghị quyết, đặc biệt là trách nhiệm của cơ quan chủ trì, phối hợp xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết.
- Trong giai đoạn soạn thảo, cần đồng thời chuẩn bị dự thảo văn bản quy định chi tiết thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ để trình kèm theo khi trình dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Đối với những dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết mà nội dung dự kiến giao quy định chi tiết có liên quan đến nhiều bộ, cơ quan ngang bộ thì phải chỉ rõ trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ và lấy ý kiến của các cơ quan này. Nội dung giao quy định chi tiết cần phải được nêu rõ trong tờ trình và dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.
- Trong quá trình thẩm tra VBQPL, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan thẩm tra xác định rõ nội dung giao quy định chi tiết và thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết để bảo đảm đủ thời gian xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết. Trong đó lưu ý phải phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan ngang bộ (không phải là cơ quan chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết) về dự kiến nội dung giao quy định chi tiết, tránh trường hợp luật đã thông qua các bộ mới biết nhiệm vụ xây dựng văn bản quy định chi tiết.
3.4 Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết
- Ngay sau khi Quốc hội thông qua luật, nghị quyết, các bộ, cơ quan ngang bộ phải gửi đề xuất các văn bản quy định chi tiết cho Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, cần lưu ý áp dụng nguyên tắc một văn bản để quy định chi tiết nhiều nội dung được giao, hạn chế số lượng văn bản quy định chi tiết; xác định chính xác nội dung giao quy định chi tiết (điều, khoản, điểm), hình thức văn bản quy định chi tiết, cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết, cơ quan phối hợp. Trường hợp nội dung giao quy định chi tiết thuộc các cơ quan khác (không phải cơ quan chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết) thì cần trao đổi, thống nhất với các cơ quan đó; xác định rõ những nội dung giao cho địa phương quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện được giao xây dựng trình hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết cần tập trung các nguồn lực để tổ chức soạn thảo văn bản quy định chi tiết bảo đảm có hiệu lực cùng với hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết. Kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cấp có thẩm quyền về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình soạn thảo văn bản quy định chi tiết để tìm cách tháo gỡ, đề xuất những giải pháp khắc phục khó khăn, vướng mắc đó. Những nội dung lớn, phức tạp cần chủ động xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ, Ủy ban nhân dân phụ trách; đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan ngang bộ hoặc với các cơ quan có liên quan về những nội dung trong văn bản quy định chi tiết.
- Nghiêm túc tiếp thu ý kiến góp ý, ý kiến thẩm định, ý kiến đối tượng chịu sự tác động. Bên cạnh đó, quan tâm lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học để đảm bảo sự phù hợp với phạm vi điều chỉnh, đối tượng tác động, bảo đảm tính khả thi của các quy định trong văn bản.
- Thường xuyên báo cáo với Chính phủ, Ủy ban nhân dân về tiến độ soạn thảo các văn bản quy định chi tiết.
- Trên cơ sở tổng hợp kết quả rà soát sơ bộ của Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ quan có liên quan, căn cứ các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ: (i) Thực hiện rà soát các nội dung được luật giao quy định chi tiết, lập, trình Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định Danh mục nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh danh mục quyết định của Ủy ban nhân dân quy định chi tiết các nội dung được luật giao; (ii) Tập trung nguồn lực soạn thảo, trình ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân bảo đảm chất lượng, tiến độ để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của các luật, pháp lệnh, nghị quyết hoặc bảo đảm thi hành văn bản được quy định chi tiết.
3.5. Trong quá trình thẩm định văn bản quy phạm pháp luật
- Các cơ quan chủ trì lập đề nghị, soạn thảo văn bản, khi tham dự thẩm định cần báo cáo rõ về việc dự kiến các nội dung ủy quyền, giao quy định chi tiết, chủ thể được giao và thời điểm có hiệu lực của nội dung quy định chi tiết.
- Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp tiếp tục tăng cường theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết, tập trung nguồn lực để bảo đảm tiến độ, chất lượng thẩm định. Nội dung ý kiến thẩm định cần thể hiện rõ ý kiến về phạm vi, nội dung, chủ thể được giao quy định chi tiết, thời điểm có hiệu lực của nội dung giao quy định chi tiết để bảo đảm tính khả thi.
3.6. Trong giai đoạn trình, báo cáo Chính phủ, Ủy ban nhân dân
Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Ủy ban nhân dân đẩy nhanh tiến độ thực hiện các thủ tục trình, báo cáo Chính phủ, Ủy ban nhân dân đối với các văn bản quy phạm pháp luật đã được các bộ, cơ quan ngang bộ hoặc các cơ quan trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc theo Ủy ban nhân dân theo Quy chế làm việc của Chính phủ, của Ủy ban nhân dân; phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, cơ quan chủ trì soạn thảo trong quá trình chỉnh lý, tiếp thu, giải trình ý kiến thành viên Chính phủ, của Ủy ban nhân dân bảo đảm thời gian ban hành văn bản quy định chi tiết./.
Phạm Thị Ninh & Nguyễn Thị Ánh Nguyệt*
 

[1] Quyết định số 65/QĐ-TTg ngày 18/01/2017 ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV; Quyết định số 1357/QĐ-TTg ngày 13/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được thông qua tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV; Quyết định số 50/QĐ-TTg ngày 11/01/2018 ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 4; Quyết định số 851/QĐ-TTg ngày 12/7/2018 ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 5; Quyết định số1726/QĐ-TTg ngày 11/12/2018 của về việc ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 6; Quyết định số 936/QĐ-TTg ngày 26/7/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 7; Quyết định số 24/QĐ-TTg ngày 06/01/2020 về ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 8; Quyết định số 1109/QĐ-TTg ngày 24/7/2020 ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 9.
([2]) Số liệu được thống kê và tổng hợp từ các Báo cáo số: 397/BC-BTP ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Bộ Tư pháp báo cáo tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh năm 2016, nhiệm vụ năm 2017; 375/BC-BTP ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Bộ Tư pháp báo cáo Tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết năm 2017, nhiệm vụ năm 2018; 313 /BC-BTP ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Tư pháp báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết năm 2018, nhiệm vụ năm 2019; 342/BC-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2019 của Bộ Tư pháp báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng,ban hành văn bản quy định chi tiết năm 2019, nhiệm vụ năm 2020; 131/BC-BTP ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Bộ Tư pháp báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh 06 tháng đầu năm và nhiệm vụ 06 tháng cuối năm 2020; 165/BC-BTP ngày 30 tháng 7 năm 2020 của Bộ Tư pháp về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết trong tháng 7/2020 và nhiệm vụ tháng 8/2020.
[3] Báo cáo số 397/BC-BTP ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Bộ Tư pháp báo cáo tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh năm 2016, nhiệm vụ năm 2017.
[4] Báo cáo số 375/BC-BTP ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Bộ Tư pháp báo cáo Tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết năm 2017, nhiệm vụ năm 2018.
[5] Báo cáo số 313 /BC-BTP ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Tư pháp báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết năm 2018, nhiệm vụ năm 2019.
[6] Báo cáo số 342/BC-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2019 của Bộ Tư pháp báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng,ban hành văn bản quy định chi tiết năm 2019, nhiệm vụ năm 2020.
[7] Báo cáo số 165/BC-BTP ngày 30 tháng 7 năm 2020 của Bộ Tư pháp về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết trong tháng 7/2020 và nhiệm vụ tháng 8/2020.
[8] Luật Thi hành án hình sự năm 2019 với 40 nội dung giao quy định chi tiết; Luật Đầu tư công năm 2019 với 30 nội dung giao quy định chi tiết.
[9] Luật Đầu tư công năm 2019 ban hành ngày 13/6/2019, ngày có hiệu lực 01/01/2020, trong đó giao Chính phủ ban hành 04 nghị định để quy định chi tiết 30 nội dung.
5 02 văn bản quy định chi tiết Luật An ninh mạng là: (i) Nghị định quy định chi tiết về trình tự, thủ tục áp dụng một số biện pháp bảo vệ an ninh mạng (khoản 2 Điều 5) và (ii) Nghị quy định chi tiết một số điều trong Luật An ninh mạng (khoản 4 Điều 10; khoản 5 Điều 12; khoản 1 Điều 23; khoản 7 Điều 24; khoản 4 Điều 26; khoản 5 Điều 36) đều là văn bản có nội dung tương đối phức tạp liên quan đến các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không giạn mạng tại Việt Nam.
* Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật.