Một số điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

Một số điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định là một khâu quan trọng nhằm góp phần kiểm soát, nâng cao chất lượng văn bản. Báo cáo thẩm định là kênh thông tin quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc trình các dự án, dự thảo; đồng thời, là nguồn thông tin hữu ích để các cơ quan tham khảo trong quá trình thẩm tra, cho ý kiến, thông qua các dự án, dự thảo. Đối với cơ quan lập đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo, ý kiến thẩm định là căn cứ để chỉnh lý, hoàn thiện các đề nghị, dự án, dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền.
Vấn đề thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định từ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và tiếp tục được kế thừa, sửa đổi, bổ sung tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và hiện nay là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Ngày 18/6/2020, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội Khóa XIV thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi là Luật năm 2020) và ngày 01/7/2020, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Lệnh công bố số 09/2020/L-CTN. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021. Trên cơ sở quy định của Luật năm 2015, Luật năm 2020 đã có một số điểm sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ phân tích những điểm mới của Luật năm 2020 trên cơ sở so sánh, đối chiếu với quy định của Luật năm 2015 về thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm triển khai thi hành có hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng công tác thẩm định trong thời gian tới.
1. Một số điểm mới của Luật năm 2020 về thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
1.1. Đối tượng thẩm định
Theo quy định của Luật năm 2015, thẩm định là khâu bắt buộc trong quy trình xây dựng, ban hành 12 loại văn bản quy phạm pháp luật sau đây: (1) Luật (do Chính phủ trình); (2) Nghị quyết của Quốc hội (do Chính phủ trình); (3) Pháp lệnh (do Chính phủ trình); (4) Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (do Chính phủ trình); (5) Nghị định; (6) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; (7) Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; (8) Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; (9) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình); (10) Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; (11) Nghị quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện; (12) Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Tương ứng với quy trình xây dựng, ban hành 12 loại văn bản này, đối tượng thẩm định được quy định theo hai giai đoạn:
- Ở giai đoạn lập đề nghị, đối tượng thẩm định là chính sách trong đề nghị xây dựng 06 loại văn bản: (1) Luật (do Chính phủ trình); (2) Nghị quyết của Quốc hội (do Chính phủ trình); (3) Pháp lệnh (do Chính phủ trình); (4) Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (do Chính phủ trình); (5) Nghị định của Chính phủ quy định tại khoản 2 và 3 Điều 19 của Luật; (6) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 27 của Luật (do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình).
- Ở giai đoạn soạn thảo, đối tượng thẩm định là các quy định trong dự án, dự thảo của 12 loại văn bản như đã nêu ở trên.
Luật năm 2020 tiếp tục kế thừa quy định của Luật năm 2015, theo đó, thẩm định vẫn là khâu bắt buộc trong quy trình xây dựng, ban hành 12 loại văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, đối tượng thẩm định ở giai đoạn lập đề nghị được quy định chỉ bao gồm chính sách trong đề nghị xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật. Luật năm 2020 đã bỏ quy định về thẩm định đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 2 Điều 19 và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 2, 3 Điều 27 của Luật.
Quy định nêu trên của Luật năm 2020 xuất phát từ quá trình tổng kết thi hành Luật năm 2015 cho thấy, việc áp dụng quy trình 02 bước trong xây dựng, ban hành một số loại nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là chưa thực sự phù hợp; phạm vi các loại văn bản quy phạm pháp luật cần phải lập đề nghị theo quy trình chính sách theo quy định của Luật năm 2015 là tương đối rộng. Nhiều văn bản như nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ quy định về biện pháp tổ chức thi hành văn bản của cấp trên, thực chất là tổ chức thực hiện các chính sách trong các văn bản này, không quy định chính sách mới, nhưng vẫn phải lập đề nghị xây dựng văn bản đã làm hạn chế khả năng phản ứng nhanh của Chính phủ và chính quyền địa phương đối với những nhu cầu, đòi hỏi cấp bách của tình hình kinh tế - xã hội. Do đó, để xác định lại cho hợp lý, sát thực tế hơn các văn bản cần thiết phải lập đề nghị xây dựng theo quy trình chính sách, Luật năm 2020 đã bỏ yêu cầu lập đề nghị xây dựng theo quy trình chính sách đối với nghị định quy định tại khoản 2 Điều 19 và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 2, 3 Điều 27. Tương ứng với quy định này thì sẽ không còn việc thẩm định ở giai đoạn lập đề nghị đối với khoản 2 Điều 19 và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 2, 3 Điều 27.
1.2. Về trách nhiệm thẩm định
Luật năm 2020 tiếp tục kế thừa quy định của Luật năm 2015 về các cơ quan có trách nhiệm thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, trách nhiệm thẩm định được giao cho 04 cơ quan sau đây:
- Bộ Tư pháp (thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình; nghị định; quyết định của Thủ tướng Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).
- Tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ (thẩm định thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ).
- Sở Tư pháp (thẩm định đề nghị, dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân trình; quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).
- Phòng Tư pháp cấp huyện (thẩm định nghị quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện; Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện).
1.3. Về hồ sơ gửi thẩm định
Tương ứng với quy trình xây dựng, ban hành văn bản, hồ sơ gửi thẩm định được quy định như sau:
- Đối với văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng, ban hành theo quy trình 02 bước (lập đề nghị và soạn thảo)[1], hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:
+ Ở giai đoạn lập đề nghị: (1) Tờ trình đề nghị; (2) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách; (3) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đén đề nghị; (4) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; (5) Bản chụp các ý kiến góp ý; (6) Đề cương dự thảo văn bản.
- Ở giai đoạn soạn thảo: (1) Tờ trình; (2) Dự thảo văn bản; (3) Bản đánh giá tác động thủ tục hành chính (nếu trong dự án, dự thảo có quy định thủ tục hành chính); (4) Báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu trong dự án, dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới); (5) Báo cáo/Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; (6) Bản chụp ý kiến góp ý.
- Đối với văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng, ban hành theo quy trình một bước (không lập đề nghị [2], hồ sơ gửi thẩm định được quy định như sau:
+ Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, hồ sơ bao gồm: (1) Tờ trình; (2) Dự thảo; (3) Báo cáo tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; (4) Bản chụp ý kiến góp ý; (5) Bản đánh giá tác động thủ tục hành chính (nếu trong dự án, dự thảo có quy định thủ tục hành chính); (6) Báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu trong dự án, dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới).
+ Đối với nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hồ sơ bao gồm: (1) Tờ trình; (2) Dự thảo văn bản; (3) Bản đánh giá tác động thủ tục hành chính (nếu trong dự án, dự thảo có quy định thủ tục hành chính); (4) Báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu trong dự án, dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới); (5) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; (6) Bản chụp ý kiến góp ý.
+ Đối với quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, hồ sơ bao gồm: (1) Tờ trình; (2) Dự thảo; (3) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; (4) Bản chụp ý kiến góp ý.
+ Đối với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, hồ sơ bao gồm: (1) Tờ trình; (2) Dự thảo; (3) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; (4) Bản chụp ý kiến góp ý.
+ Đối với quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, hồ sơ bao gồm: (1) Tờ trình; (2) Dự thảo; (3) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý.
 
So với Luật năm 2015, Luật năm 2020 đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung sau đây:
- Hồ sơ gửi thẩm định đối với đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 3 Điều 19: thay loại tài liệu là “đề cương dự thảo nghị định” bằng “dự kiến đề cương chi tiết dự thảo nghị định”.
- Hồ sơ gửi thẩm định đối với dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội: bổ sung 01 loại tài liệu gửi thẩm định là Báo cáo về rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến dự án, dự thảo.
- Hồ sơ gửi thẩm định đối với nghị định quy định tại khoản 2 Điều 19, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 2, 3 Điều 27: bổ sung Báo cáo đánh giá tác động của chính sách (do không thẩm định đề nghị mà chuyển sang thẩm định ở giai đoạn soạn thảo, nên khi gửi hồ sơ thẩm định sẽ phải có thêm báo cáo đánh giá tác động của chính sách).
- Hồ sơ gửi thẩm định đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ: bổ sung báo cáo đánh giá tác động của chính sách để bảo đảm tính thống nhất với quy định về trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo tại điểm b khoản 1 Điều 97 của Luật năm 2015.
- Hồ sơ gửi thẩm định đối với quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện: bổ sung bản chụp ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
1.4. Nội dung thẩm định
Luật năm 2015 quy định về nội dung thẩm định tương ứng với quy trình xây dựng, ban hành văn bản, cụ thể:
- Đối với văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng, ban hành theo quy trình 02 bước (lập đề nghị và soạn thảo)[3], nội dung thẩm định được quy định như sau:
+ Nội dung thẩm định đề nghị: (1) Sự cần thiết ban hành; đối tượng, phạm vi điều chỉnh; (2) Sự phù hợp của nội dung chính sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; (3) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của chính sách với hệ thống pháp luật và tính khả thi, tính dự báo của nội dung chính sách, các giải pháp và điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách; (4) Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; (5) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của chính sách, nếu chính sách liên quan đến thủ tục hành chính; (6) Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nếu chính sách liên quan đến vấn đề bình đẳng giới; (7) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục lập đề nghị.
+ Nội dung thẩm định dự thảo: (1) Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với mục đích, yêu cầu, phạm vi điều chỉnh, chính sách trong đề nghị đã được thông qua; (2) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật; (3) Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; (4) c) Sự cần thiết, tính hợp lý và chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản, nếu trong dự thảo văn bản có quy định thủ tục hành chính; (5) Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành văn bản quy phạm pháp luật; (6) Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản, nếu trong dự thảo văn bản có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới; (7) Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.
- Đối với văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng, ban hành theo quy trình một bước (không lập đề nghị)[4], nội dung thẩm định bao gồm: (1) Sự cần thiết ban hành; đối tượng, phạm vi điều chỉnh; (2) Sự phù hợp của nội dung dự thảo với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; (3) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật; (4) Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; (5) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính, nếu trong dự thảo có quy định liên quan đến thủ tục hành chính; (6) Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nếu trong dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới; (7) Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành; (8) Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.
So với Luật năm 2015, Luật năm 2020 có một số điểm mới về nội dung thẩm định như sau:
- Sửa đổi, bổ sung 05 Điều của Luật năm 2015 (Điều 58, 92, 121, 130 và Điều 139), trong đó, bổ sung nội dung thẩm định là phải bảo đảm “Sự phù hợp của chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản và nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước”. Lý do là nhằm tiếp tục khẳng định, làm rõ và sâu sắc hơn cơ chế bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Do nghị định quy định tại khoản 2 Điều 19 và nghị quyết quy định tại khoản 2, 3 Điều 27 không còn bước thẩm định ở giai đoạn lập đề nghị mà chuyển sang thẩm định ở giai đoạn soạn thảo, nên Luật năm 2020 đã sửa đổi, bổ sung quy định về nội dung thẩm định đối với các loại văn bản này theo hướng sẽ thẩm định đầy đủ các nội dung như đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật soạn thảo theo quy trình một bước (không lập đề nghị). Theo đó, thay vì thẩm định về sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vi điều chỉnh ở giai đoạn lập đề nghị như Luật năm 2015, thì sẽ chuyển sang thẩm định ở giai đoạn soạn thảo cùng với các nội dung thẩm định khác như sự phù hợp của nội dung dự thảo với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật; tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính, nếu trong dự thảo có quy định liên quan đến thủ tục hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nếu trong dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới; điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành; ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.
1.5. Về thời hạn gửi hồ sơ thẩm định và thời hạn thẩm định
Luật năm 2020 giữ nguyên quy định về thời hạn thẩm định đối với đề nghị, dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể:
- Đối với luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội: (1) Thời hạn thẩm định đề nghị được quy định tại Điều 39, theo đó Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định đề nghị trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ và có trách nhiệm gửi báo cáo thẩm định đến bộ, cơ quan ngang bộ lập đề nghị chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định; (2) Thời hạn thẩm định dự án, dự thảo được quy định tại Điều 58, theo đó, báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
- Đối với nghị định của Chính phủ: (1) Thời hạn thẩm định đề nghị được quy định tại Điều 88, theo đó Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định đề nghị trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ và có trách nhiệm gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan lập đề nghị chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định; (2) Thời hạn thẩm định dự án, dự thảo được quy định tại Điều 58, theo đó, báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
- Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thời hạn thẩm định được quy định tại Điều 98 (báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ).
- Đối với thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Điều 102 quy định, báo cáo thẩm định phải được gửi đến đơn vị chủ trì soạn thảo chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
- Đối với nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Điều 109 quy định, báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
- Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27, thời hạn thẩm định là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì lập đề nghị chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định (Điều 115).
Đối với thời hạn thẩm định nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện và quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Luật năm 2020 sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng thời hạn gửi hồ sơ thẩm định và thời hạn tổ chức thẩm định nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, nâng cao trách nhiệm của cơ quan chủ trì lập đề nghị, soạn thảo, có thêm thời gian cho cơ quan thẩm định nghiên cứu hồ sơ, tổ chức thẩm định. Cụ thể như sau:
- Đối với dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Luật năm 2020 quy định thời hạn gửi hồ sơ thẩm định tăng từ 20 ngày lên 25 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Sở Tư pháp để thẩm định; thời hạn gửi báo cáo thẩm định được quy định tăng từ 10 ngày lên 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
- Đối với dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Luật năm 2020 quy định thời hạn gửi hồ sơ thẩm định tăng từ 20 ngày lên 25 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo quyết định đến Sở Tư pháp để thẩm định; thời hạn gửi báo cáo thẩm định được quy định tăng từ 10 ngày lên 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
- Đối với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, thời hạn gửi hồ sơ thẩm định được tăng từ 10 ngày lên 20 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp.
- Đối với quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, thời hạn gửi hồ sơ thẩm định được tăng từ 10 ngày lên 20 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp; thời hạn gửi báo cáo thẩm định được quy định tăng từ 05 ngày lên 15 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp.
1.6. Về báo cáo thẩm định
Luật năm 2020 giữ nguyên quy định về báo cáo thẩm định của Luật năm 2015. Theo đó, báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định theo quy định của Luật và khẳng định về việc đề nghị, dự án, dự thảo văn bản đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình cơ quan có thẩm quyền.
1.7. Trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định
Luật năm 2020 cơ bản giữ nguyên quy định về trách nhiệm của cơ quan chủ trì lập đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của Luật năm 2015 và chỉ bổ sung quy định về trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Tóm lại, liên quan đến 07 vấn đề về thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Luật năm 2020 giữ nguyên các quy định về báo cáo thẩm định, đồng thời sửa đổi, bổ sung 06 vấn đề về đối tượng thẩm định, trách nhiệm thẩm định, hồ sơ gửi thẩm định, thời hạn thẩm định và nội dung thẩm định.
2. Một số giải pháp nhằm triển khai thi hành có hiệu quả quy định của Luật năm 2015 và Luật năm 2020 về thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Thẩm định là một khâu quan trọng trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, là công cụ hữu hiệu trong việc kiểm soát chất lượng của văn bản. Công tác thẩm định có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc nâng cao chất lượng thể chế, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế.
Để tiếp tục thi hành và triển khai thi hành có hiệu quả quy định về thẩm định của Luật năm 2015 và Luật năm 2020, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau đây:
  Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác thẩm định và lập đề nghị, soạn thảo dự án, dự thảo văn bản tại các bộ, ngành, địa phương.
Thứ hai, tiếp tục thực hiện nghiêm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Các bộ, ngành, địa phương, nhất là các đơn vị xây dựng pháp luật thuộc Bộ Tư pháp, tổ chức pháp chế của các bộ, cơ quan ngang bộ, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp cấp huyện cần quán triệt, phổ biến kịp thời các quy định về thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó, lưu ý quán triệt về những điểm mới của Luật năm 2020 cho đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác thẩm định nhằm nâng cao nhận thức cũng như giúp đội ngũ này nắm vững các quy định của Luật, trên cơ sở đó, triển khai thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn. Trong đó, lưu ý để thực hiện nghiêm các quy định về hình thức tổ chức thẩm định, thành phần tham gia thẩm định, thời hạn, nội dung thẩm định.
Thứ ba, nghiên cứu, ban hành hoặc hoàn thiện các quy chế nội bộ, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ liên quan đến công tác thẩm định.
Thứ tư, ưu tiên, tăng cường nguồn lực, nhất là nguồn tài chính và nguồn nhân lực đầu tư cho công tác thẩm định. Về nguồn nhân lực, cơ quan được giao trách nhiệm thẩm định cần thực hiện các giải pháp cụ thể, đồng bộ để xây dựng, bố trí, điều động, luân chuyển các cán bộ, công chức có năng lực làm công tác thẩm định theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại, đáp ứng các yêu cầu công việc đặt ra. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ này.
Thứ năm, nghiên cứu xây dựng cơ chế thu hút hơn nữa các chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu am hiểu sâu về từng lĩnh vực tham gia vào quá trình thẩm định.
Thứ sáu, quan tâm, theo dõi sát việc tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định và có ý kiến với Chính phủ, Ủy ban nhân dân về kết quả tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định.
Thứ bảy, nâng cao trách nhiệm, hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình xây dựng pháp luật, nhất là giữa cơ quan chủ trì lập đề nghị, soạn thảo với cơ quan chủ trì thẩm định ngay từ khi bắt đầu quá trình lập đề nghị đến soạn thảo và thẩm định. Đặc biệt, trước khi tổ chức thẩm định, cơ quan chủ trì thẩm định và cơ quan chủ trì lập đề nghị, soạn thảo có thể phối hợp tổ chức các hội thảo, tọa đàm về những vấn đề có liên quan đến đề nghị, dự án, dự thảo văn bản.
Nguyễn Thị Phương Liên, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật
 
[1] Bao gồm: luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định quy định tại khoản 2, 3 Điều 19, nghị quyết của Hội đồng nhân dân quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 27.
[2] Nghị định quy định tại khoản 1 Điều 19, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 1 Điều 27, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,  nghị quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
[3] Bao gồm: luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định quy định tại khoản 2, 3 Điều 19, nghị quyết của Hội đồng nhân dân quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 27.
[4] Nghị định quy định tại khoản 1 Điều 19, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 1 Điều 27, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,  nghị quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.