Ngày 06/02/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số19-2017/NQ-CP vềtiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủyếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020. Lần đầu tiên, Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo, trong đó có Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật được Chính phủ chỉ đạo thực hiện. Thực hiện phân công của Chính phủ về việc “
Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương cải thiện chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật thuộc bộ chỉ số Đổi mới sáng tạo (GII)” (nêu tại Phụ lục IV, Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2020 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020), trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã tích cực, chủ động, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương trên toàn quốc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ.
1. Thực trạng triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật
1.1. Kết quả đạt được
Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm, chỉ đạo quyết liệt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện và phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Công tác xây dựng, cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật đã đạt được những kết quả nhất định, cụ thể như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về ban hành văn bản QPPL
Ngày 18/06/2020 , Quốc hội khóa XIV thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 63/2020/QH14 (Luật năm 2020), có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021. Việc Quốc hội thông qua Luật năm 2020 là tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về ban hành văn bản QPPL, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng; tăng cường trách nhiệm của từng cơ quan và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL, nhất là trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, pháp lệnh; tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Luật năm 2015 thời gian qua.
Thứ hai, về lập đề nghị xây dựng văn bản QPPL
Việc lập đề nghị đã được bộ, ngành, địa phương thực hiện theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP từ việc tổng kết; khảo sát, đánh giá; nghiên cứu khoa học; xây dựng nội dung của chính sách; đánh giá tác động của chính sách; lấy ý kiến các cơ quan, đơn vị liên quan và gửi thẩm định trước khi trình cơ quan có thẩm quyền thông qua.
Trong năm 2020, đối với lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua Nghị quyết số
106/2020/QH14 ngày 10/06/2020 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020; đối với lập đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ, các Bộ, ngành đã trình Chính phủ 21 đề nghị xây dựng nghị định; đối với lập đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tình, cơ quan chuyên môn của thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh đã trình Hội đồng nhân dân tỉnh 253 đề nghị.
Thứ ba, xây dựng, ban hành văn bản QPPL
- Về xây dựng, trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết: Tính đến ngày 01/12/2020, thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong năm 2020, các bộ, cơ quan ngang bộ đã trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến đối với 21 dự án luật, dự thảo Nghị quyết. Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020 theo Nghị quyết số 78/2019/QH14 ngày 11/6/2019 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, Nghị quyết số
106/2020/QH14 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, trong năm 2020, các bộ đã trình Chính phủ trình Quốc hội xem xét thông qua 23 dự án luật, dự thảo nghị quyết; cho ý kiến đối với 04 dự án. Việc Quốc hội sửa đổi, bổ sung, ban hành các luật trong năm vừa qua đã góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật trên các lĩnh vực. Đây là những luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức; bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh..
- Về xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết: Bộ Tư pháp cũng đã gửi thông báo đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh những nội dung mà luật, nghị quyết của Quốc hội giao cho địa phương quy định chi tiết để kịp thời xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, tổ chức triển khai thi hành các luật, nghị quyết một cách hiệu quả
[1]. Đồng thời, Bộ Tư pháp, thường xuyên có văn bản đôn đốc công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh
[2], tổ chức buổi làm việc trực tiếp với các bộ để trao đổi, thảo luận, đề ra các biện pháp xử lý một số khó khăn, vướng mắc trong công tác thực hiện xây dựng pháp luật, nhất là việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết.
Kết quả là, tính đến ngày 01/12/2020, đối với 85 văn bản quy định chi tiết các luật đã có hiệu lực, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng đã ban hành 69 văn bản (48 nghị định, 01 thông tư liên tịch, 20 thông tư), còn 16/69 văn bản (06 nghị định, 01 quyết định, 09 thông tư) nợ chưa ban hành, hiện đã được trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành. Đối với 68 văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết sẽ có hiệu lực trong năm 2021, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng đã ban hành được 07/68 văn bản (03 nghị định, 04 thông tư), đảm bảo có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật. Còn lại 61/68 văn bản (36 nghị định, 05 quyết định, 24 thông tư) đang được các bộ xây dựng để ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành. Đặc biệt, trong số văn bản còn lại có 51/61 văn bản (28 nghị định, 02 quyết định, 21 thông tư) quy định chi tiết 12 luật, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, đã ở vào tình trạng chậm và không bảo đảm ban hành có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật.
- Xây dựng, ban hành văn bản QPPL của địa phương: Công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL trong thời gian qua luôn được các cấp chính quyền địa phương quan tâm, quán triệt thực hiện nhiêm túc. Từ ngày 01/01/2020 đến ngày 01/12/2020, theo số liệu cập nhật tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã ban hành 746 nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành 1939 quyết định. Các văn bản QPPL được ban hành đúng trình tự, thủ tục quy định của Luật. Văn bản QPPL được ban hành bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp; đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán của địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
Thứ tư, công tác rà soát, kiểm tra văn bản QPPL
Công tác rà soát, kiểm tra văn bản QPPL có nhiều kết quả nổi bật. Bộ Tư pháp và các bộ, ngành đã tập trung nguồn lực thực hiện rà soát các văn bản QPPL thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ theo Kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản QPPL. Trên cơ sở kết quả rà soát, Chính phủ đã có báo cáo về kết quả rà soát văn bản QPPL thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước gửi Quốc hội
[3], được Quốc hội đánh giá cao, kịp thời phát hiện, xử lý các quy định pháp luật có nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, không phù hợp thực tiễn, trọng tâm là các văn bản, quy định về môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, giải phóng nguồn lực, tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội. Công tác kiểm tra văn bản QPPL tiếp tục được các bộ, ngành, địa phương thường xuyên thực hiện. Theo kết quả kiểm tra, số văn bản trái nội dung, thẩm quyền đã giảm đáng kể, cho thấy chất lượng văn bản QPPL ngày càng được cải thiện, nâng cao chất lượng. Tính đến ngày 01/12/2020, Bộ Tư pháp đã kiểm tra theo thẩm quyền đối với 2.970 văn bản (gồm 247 văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ; 2.723 văn bản của địa phương). Qua kiểm tra đã phát hiện, kết luận kiểm tra, kiến nghị xử lý đối với 68 văn bản, gồm 63 văn bản QPPL có quy định trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền và 05 văn bản không phải là văn bản QPPL nhưng có chứa QPPL (06 văn bản của cấp bộ, 62 văn bản của địa phương). Đến nay, có 41/68 văn bản đã được cơ quan ban hành xử lý
[4].
Như vậy, trong thời gian qua, công tác cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Những kết quả nêu trên đã góp phần tích cực vào việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, nội luật hóa các điều ước, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cụ thể hóa các quy định của luật, pháp lệnh, đưa luật, pháp lệnh nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; bảo đảm tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế; đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; cải thiện môi trường kinh doanh; mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; bảo đảm quyền, lợi ích của người dân, doanh nghiệp.
Những kết quả trên đã góp phần cải thiện, gia tăng về mặt giá trị thứ hạng của Việt Nam về Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật như sau:
| Mã Chỉ số |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
| 1.2.1 |
Giá trị |
Điểm số |
Thứ hạng |
Giá trị |
Điểm số |
Thứ hạng |
Giá trị |
Điểm số |
Thứ hạng |
Giá trị |
Điểm số |
Thứ hạng |
Giá trị |
Điểm số |
Thứ hạng |
| -0.59 |
30.1 |
103 |
-0.50 |
29.4 |
100 |
-0.50 |
32.5 |
99 |
0.4 |
31.30 |
97 |
0.4 |
31.6 |
99 |
Điều này, cho thấy nỗ lực của nhà nước Việt Nam trong việc thúc đẩy cải cách thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
1.2. Một số tồn tại, hạn chế
Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng văn bản QPPL, cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật còn một số tồn tại, hạn chế như sau:
Thứ nhất, tính đến tháng 8/2020, còn 20 dự án luật trong Danh mục ban hành kèm theo Nghị quyết số 718/NQ-UBTVQH13 chưa được ban hành, trong đó có 17/20 dự án luật, pháp lệnh chưa được đưa vào hoặc đã được đưa vào nhưng đề nghị xin rút ra khỏi Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
[5].
Thứ hai, tình trạng nợ ban hành văn bản quy định chi tiết cơ bản được khắc phục nhưng chưa triệt để, số văn bản nợ ban hành đến nay còn 16 văn bản (06 nghị định, 01 quyết định, 09 thông tư). Chất lượng một số văn bản quy định chi tiết còn hạn chế.
Thứ ba, việc gắn kết giữa xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật trong một số lĩnh vực chưa thực sự hiệu quả, chưa phản ánh đầy đủ, kịp thời nhu cầu thực tiễn; một số chế định pháp luật được triển khai thực hiện còn thiếu đồng bộ; xử lý vi phạm chưa kịp thời và đủ nghiêm khắc. Cơ chế đảm bảo cho người dân giám sát thi hành pháp luật còn chưa thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn.
Thứ tư, một số cơ quan cấp bộ và địa phương chưa thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trách nhiệm trong công tác rà soát, kiểm tra, xử lý văn bản nên việc phát hiện, xử lý văn bản trái pháp luật hoặc không còn phù hợp thuộc thẩm quyền còn chưa kịp thời. Vẫn còn các trường hợp văn bản có quy định trái pháp luật đã được phát hiện, kết luận nhưng chậm được xử lý.
Thứ năm, việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, cá nhân liên quan đến việc ban hành văn bản trái pháp luật nhìn chung chưa được thực hiện một cách thỏa đáng, mới ở mức độ rút kinh nghiệm, phê bình, đánh giá việc hoàn thành công vụ, chưa đảm bảo kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL.
1.3. Nguyên nhân
Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, cụ thể như sau:
Thứ nhất, nguyên nhân khách quan
- Hiến pháp có nhiều nội dung mới, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nhiều luật, pháp lệnh cũng như các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật để kịp thời thể chế hóa Hiến pháp, bảo đảm phù hợp với nội dung và tinh thần của Hiến pháp dẫn đến số lượng văn bản cần rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới là rất lớn.
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ phải xây dựng, ban hành một số lượng lớn văn bản quy định chi tiết. Bên cạnh việc tổ chức triển khai thi hành luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết, các bộ, cơ quan ngang bộ còn phải tập trung nguồn lực cho công tác soạn thảo, trình các dự án luật, pháp lệnh theo Chương trình năm 2020. Đặc biệt, trong năm 2020, dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của nước ta. Chính phủ, các bộ phải tập trung nguồn lực cho công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả dịch bệnh, xây dựng một số văn bản quy phạm pháp luật đặc thù cho việc hỗ trợ người dân, doanh nghiệp ứng phó với dịch bệnh Covid-19, vì vậy công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết có độ trễ so với tiến độ được phân công.
- Một số luật giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng quy định chi tiết tương đối nhiều nội dung
([6]), khoảng thời gian từ lúc luật, pháp lệnh được thông qua đến thời điểm có hiệu lực tương đối ngắn
([7]); một số nội dung luật giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng quy định chi tiết là những vấn đề mới, khó, phức tạp
([8]); nội dung chính sách chưa rõ hoặc thiếu định hướng cụ thể về chính sách hoặc phải chờ kết quả thực hiện thí điểm chính sách, dẫn đến kéo dài thời gian soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết.
- Thời gian qua, nhiều vấn đề kinh tế, xã hội mới, phức tạp nảy sinh, nhất là trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đã dẫn tới những bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành.
- Nguồn lực, kinh phí chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong khi khối lượng công việc là rất lớn, nhiều việc cấp bách, nhất là trong công tác hoàn thiện xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Thứ hai, nguyên nhân chủ quan
- Nhận thức của lãnh đạo một số cơ quan về vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng pháp luật còn hạn chế, dẫn đến việc thực hiện chưa thật sự đúng yêu cầu, chưa dành nguồn lực thỏa đáng cho công tác này.
- Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong xây dựng một số văn bản QPPL còn chưa chặt chẽ. Cơ chế giải trình, bảo vệ quan điểm của cơ quan chủ trì soạn thảo về nội dung chính sách trong dự án luật còn chưa hiệu quả.
- Việc thực hiện quy trình xây dựng văn bản QPPL của một số bộ, ngành, địa phương chưa tuân thủ theo quy định, ảnh hưởng đến chất lượng các quy định pháp luật như một số trường hợp ban hành văn bản QPPL chưa chú trọng đúng mức đến đánh giá tác động và các điều kiện bảo đảm thi hành, dẫn đến tình trạng pháp luật khó đi vào cuộc sống; việc tổng kết thực tiễn thi hành văn bản QPPL trong một số trường hợp chưa được tiến hành kịp thời, hiệu quả; chưa thực hiện việc rà soát đầy đủ, kỹ lưỡng văn bản QPPL liên quan khi ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế văn bản QPPL, dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định; việc lấy ý kiến về dự thảo văn bản, nhất là ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản còn hình thức, chưa hiệu quả; việc tổng hợp, tiếp thu ý kiến đóng góp chưa triệt để; một số dự thảo văn bản được xây dựng thiếu gắn kết với kết quả điều tra, khảo sát thực tiễn, chưa bảo đảm tính dự báo.
- Cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế tại các bộ, ngành và địa phương, chuyên gia có trình độ chuyên sâu làm công tác xây dựng pháp luật thiếu về số lượng, năng lực một bộ phận công chức làm công tác xây dựng pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, nhất là về tính chuyên nghiệp, kỹ năng phân tích, dự báo, xây dựng chính sách, áp dụng pháp luật.
2. Một số đề xuất, kiến nghị
Từ những nhận xét, đánh giá về thực trạng nêu trên, nhằm để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ cải thiện Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật, tác giả xin đưa ra một số đề xuất, kiến nghị như sau:
2.1. Về công tác chỉ đạo điều hành
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác này, phân công rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân trong việc nghiên cứu, soạn thảo, trình văn bản. Thường xuyên kiểm tra, kiểm điểm rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý trách nhiệm đối với đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng chậm tiến độ và không bảo đảm chất lượng văn bản; cương quyết không xem xét khen thưởng các tổ chức, cá nhân để xảy ra tình trạng nợ ban hành văn bản.
2.2. Trong quá trình xây dựng văn bản QPPL để ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành
- Ưu tiên tập trung cho công tác soạn thảo, trình các dự án luật, pháp lệnh thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, 2021, đặc biệt là các dự án về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh cho các nhà đầu tư và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Ngay sau khi Quốc hội thông qua luật, nghị quyết, các bộ, cơ quan ngang bộ cần gửi đề xuất các văn bản quy định chi tiết để Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Các bộ, cơ quan ngang bộ được giao xây dựng, trình hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết cần tập trung nguồn lực để tổ chức soạn thảo văn bản quy định chi tiết đúng thời hạn theo quyết định phân công của Thủ tướng Chính phủ. Kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình soạn thảo văn bản quy định chi tiết để tìm cách tháo gỡ, đề xuất những giải pháp khắc phục khó khăn, vướng mắc đó.
- Các bộ, ngành tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật không rõ ràng, không cụ thể, không khả thi, cản trở điều kiện đầu tư kinh doanh, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp, trong đó đặc biệt quan tâm, chú trọng đến việc cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh theo tinh thần Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ về Ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025; kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính trên tinh thần cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật.
2.3. Bảo đảm nguồn lực cho công tác xây dựng pháp luật
Bảo đảm nguồn lực về biên chế, kinh phí cho công tác xây dựng pháp luật. Ưu tiên, tập trung thời gian, nguồn lực cho công tác xây dựng văn bản QPPL; củng cố kiện toàn tổ chức pháp chế, tổ chức làm công tác xây dựng pháp luật; nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại, đáp ứng các yêu cầu công việc đặt ra.
2.4. Về chế độ báo cáo
Các bộ, ngành, địa phương cần thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật gửi về Bộ Tư pháp để tổng hợp chung, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định.
Nguyễn Trà My, Vụ VĐCXDPL
([1]) Công văn số 5155/BTP-VĐCXDPL ngày 30/12/2019 thông báo nội dung giao địa phương quy định chi tiết các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 8; Công văn số 2910/BTP-VĐCXDPL ngày 11/8/2020 thông báo nội dung giao địa phương quy định chi tiết các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 9.
[2] Trong năm 2020, Bộ Tư pháp đã ban hành 6 văn bản để đôn đốc công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết (Công văn số 205/BTP-VĐCXDPL ngày 20/01/2020; 810/BTP-VĐCXDPL ngày 11/3/2020; 1768/BTP-VĐCXDPL ngày 15/5/2020; 2086/BTP-VĐCXDPL ngày 10/6/2020; 3885/BTP-VĐCXDPL ngày 20/10/2020).
[3] Báo cáo số 442/BC-CP ngày 01/10/2020 của Chính phủ trình Quốc hội về kết quả rà soát văn bản QPPL thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước.
[4] Theo Văn bản số 686/KTrVB-VP ngày 27/11/2020 của Cục Kiểm tra văn bản QPPL.
[5] Theo Báo số 393/BC-CP ngày 31/8/2020 của Chính phủ về tình hình thực hiện Nghị quyết số 718/NQ-UBTVQH13 và Nghị quyết số 67/QH13.
([6]) Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi) với 40 nội dung giao quy định chi tiết; Luật Đầu tư công (sửa đổi) với 30 nội dung giao quy định chi tiết.
([7]) Luật Đầu tư công (sửa đổi) ban hành ngày 13/6/2019, ngày có hiệu lực 01/01/2020, trong đó giao Chính phủ ban hành 04 nghị định để quy định chi tiết 30 nội dung.
([8]) Nghị quy định chi tiết một số điều trong Luật An ninh mạng (khoản 4 Điều 10; khoản 5 Điều 12; khoản 1 Điều 23; khoản 7 Điều 24; khoản 4 Điều 26; khoản 5 Điều 36) là văn bản có nội dung tương đối phức tạp liên quan đến các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không giạn mạng tại Việt Nam.