Thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, năm 2020 công tác pháp chế của các bộ, ngành đã đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các nhiệm vụ chính trị quan trọng của bộ, ngành.
1. Về kết quả đạt được
1.1. Về công tác chỉ đạo, điều hành và hướng dẫn triển khai thực hiện
Ngay từ cuối năm 2019 và đầu năm 2020, các bộ, ngành đã sớm ban hành Kế hoạch thực hiện công tác pháp chế chỉ đạo các đơn vị, cơ quan chuyên môn thực hiện tốt công tác pháp chế tại cơ quan, đơn vị mình, triển khai thực hiện, đồng thời thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc thực hiện công tác.
1.2. Về tổ chức và đội ngũ người làm công tác pháp chế
Về đội ngũ người làm công tác pháp chế: đến nay, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có 4.625 người người làm công tác pháp chế (tăng 452 người so với năm 2019), trong đó chỉ có 1.398 người chuyên trách (giảm 219 người) và 3.227 người làm công tác pháp chế kiêm nhiệm (chủ yếu là trong lực lượng vũ trang).
1.3. Về quản lý nhà nước về công tác pháp chế của Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành
Với vai trò là cơ quan tham mưu giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác pháp chế, trong năm 2020, Bộ Tư pháp đã tiếp tục chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc sát sao công tác củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức pháp chế các bộ, ngành; trả lời các kiến nghị, yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác pháp chế cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp.
Các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ pháp chế bộ, ngành cũng được chú trọng thực hiện. Thông qua các hoạt động này đã giúp đội ngũ cán bộ pháp chế có điều kiện trao đổi, giao lưu học hỏi lẫn nhau trong quá trình triển khai công tác pháp chế và nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ người làm công tác pháp chế.
Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức thành công hội nghị sinh hoạt công tác pháp chế bộ, ngành năm 2020. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng đã tiếp tục phối hợp với các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban Dân tộc, Lao động, Thương binh và Xã hội, Tài nguyên và Môi trường xây dựng Kế hoạch năm 2020 để thực hiện Chương trình, Quy chế phối hợp giữa Bộ Tư pháp và các Bộ, cơ quan ngang Bộ nêu trên về công tác pháp chế và pháp luật, đồng thời, triển khai các nhiệm vụ theo Kế hoạch năm 2020 đã đề ra. Đồng thời, Bộ cũng xây dựng các Báo cáo để tổng kết việc thực hiện các Kế hoạch nêu trên và đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho năm 2021.
Nhìn chung, các hoạt động tập huấn nghiệp vụ, hội nghị, hội thảo do Bộ Tư pháp tổ chức nhằm nâng cao năng lực cho người làm công tác pháp chế được tổ chức thường xuyên, liên tục; các chương trình, quy chế phối hợp công tác pháp chế và pháp luật giữa Bộ Tư pháp với các bộ, ngành được triển khai có hiệu quả.
1.4. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của công tác pháp chế bộ, ngành theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP
1.4.1. Công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và pháp điển quy phạm pháp luật
- Công tác xây dựng VBQPPL
Năm 2020, Bộ Tư pháp, tổ chức pháp chế các bộ, ngành đã tham mưu cho các cơ quan có thẩm quyền trình Quốc hội thông qua 17 luật và cho ý kiến đối với nhiều dự án luật khác. Riêng Bộ Tư pháp đã giúp Chính phủ trình Quốc hội thông qua 08 luật (Luật Tiếp cận thông tin, Luật đấu giá tài sản, Luật TGPL (thay thế), Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước (thay thế), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính) trong giai đoạn này. Trong năm 2020, các bộ, ngành đã trình Chính phủ, Thủ tướng chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền 968 VBQPPL trong số 5.330 văn bản của cả nhiệm kỳ.
- Công tác thẩm định VBQPPL: Vai trò “gác cổng” về mặt thể chế của tổ chức pháp chế các bộ, ngành tiếp tục được phát huy hiệu quả, từ đó góp phần nâng cao chất lượng văn bản, văn bản được ban hành bảo đảm tính thống nhất, hợp lý và khả thi.
Trong năm 2020, toàn Ngành Tư pháp đã thẩm định 5.808 dự thảo VBQPPL (trong đó Bộ Tư pháp đã thẩm định 258 dự thảo; tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ thẩm định 405 dự thảo). Báo cáo thẩm định của tổ chức pháp chế các bộ, ngành ngày càng có chất lượng và thể hiện rõ quan điểm về điều kiện trình các dự án, dự thảo VBQPPL, được các cơ quan, cá nhân liên quan đánh giá cao, thiết thực góp phần nâng cao chất lượng văn bản.
Nhiều bộ, ngành đã chú trọng hơn công tác tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền, tích cực thực hiện kiểm tra văn bản theo lĩnh vực, địa bàn và các nguồn thông tin (như Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức kiểm tra các lĩnh vực: giá, nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường, thuế, phí, lệ phí; Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nội vụ tập trung kiểm tra nhiều văn bản do các Bộ, ngành, địa phương ban hành liên quan đến lĩnh vực quản lý của Bộ, ngành mình…). Qua kiểm tra, phát hiện đã được một số lượng đáng kể văn bản có dấu hiệu trái nội dung, thẩm quyền.
Trong năm 2020, toàn Ngành Tư pháp đã kiểm tra theo thẩm quyền 9.804 văn bản QPPL (giảm 26.8% so với năm 2019). Qua kiểm tra, bước đầu phát hiện 234 văn bản có dấu hiệu trái nội dung, thẩm quyền (chiếm tỉ lệ 2.38% trên tổng số văn bản được kiểm tra, giảm 0.4% so với năm cuối của nhiệm kỳ trước). Riêng tại Bộ Tư pháp, năm 2020 Bộ đã kiểm tra 2.970 văn bản (giảm 37% so với năm 2019), phát hiện, kết luận kiểm tra, kiến nghị xử lý đối với 68 văn bản (trong đó có 6 văn bản cấp Bộ). Đến nay, 41/68 văn bản đã được cơ quan ban hành xử lý.
Nhìn chung, công tác kiểm tra, xử lý văn bản cho thấy, các bộ, ngành đã kịp thời có những phản ứng đối với chính sách pháp luật, kịp thời phát hiện, xử lý các văn bản trái pháp luật, không phù hợp với thực tiễn, nhất là các vấn đề pháp lý liên quan đến người dân và doanh nghiệp, các văn bản có dấu hiệu không phù hợp được sự quan tâm của dư luận...Qua đó, đã đóng góp tích cực cho việc hoàn thiện pháp luật ở các bộ, ngành hiện nay.
- Công tác rà soát, hệ thống hóa VBQPPL:
Công tác rà soát VBQPPL đạt nhiều kết quả nổi bật. Bộ Tư pháp và các bộ, ngành đã tập trung nguồn lực thực hiện rà soát VBQPPL thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ theo Kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát VBQPPL.
Trong năm 2020, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản đã tổ chức rà soát 10 chuyên đề, lĩnh vực liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, với gần 8.800 văn bản; qua đó, các kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản đã đượcChính phủ Báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 10 và nhận được sự đánh giá cao của các đại biểu. Bộ Tư pháp cũng có Báo cáo kịp thời với Thủ tướng Chính phủ và gửi các Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham khảo về kết quả rà soát quy định pháp luật gây cản trở, vướng mắc, khó khăn cho sản xuất kinh doanh để kịp thời ứng phó và giảm thiểu tác động của dịch Covid -19 đến nền kinh tế.
Theo thống kê, năm 2020 toàn Ngành đã tập trung rà soát được 32.187 VBQPPL, kiến nghị xử lý (sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới) đối với 4.765 văn bản; nhiều Bộ, ngành, địa phương đã tổ chức rà soát được số lượng văn bản lớn (như Bộ Quốc phòng - 2.667 văn bản, Bộ Tài nguyên và Môi trường - 805 văn bản, Bộ Giáo dục và Đào tạo - 612 văn bản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư - 548 văn bản, Ngân hàng nhà nước Việt Nam - 503 văn bản.
- Về công tác pháp điển văn bản QPPL:
Trong năm 2020, các bộ, ngành đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp thực hiện có chất lượng, hiệu quả việc pháp điển VBQPPL theo đúng lộ trình, kế hoạch đề ra và thực hiện cập nhật các VBQPPL mới và Bộ pháp điển với tinh thần phấn đấu xây dựng xong Bộ pháp điển sớm hơn so với Kế hoạch và đã hoàn thành việc pháp điển 185/271 đề mục thuộc 45 chủ đề của Bộ pháp điển.
1.4.2. Công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật
Trong năm 2020, thể chế pháp luật cho công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính tiếp tục được tập trung sửa đổi, hoàn thiện để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn. Các bộ, ngành đã tích cực phối hợp với các Bộ Tư pháp trong việc xây dựng, trình Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIV và đã chủ động rà soát, đề xuất sửa đổi nhiều Nghị định về xử lý, xử phạt vi phạm hành chính, riêng Bộ Tư pháp đã trình ban hành 04 Nghị định.
Nhiều Bộ, ngành như Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tích cực rà soát, trình Chính phủ sửa đổi các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực do các bộ, ngành quản lý, bảo đảm phù hợp với các VBQPPL liên quan và tình hình thực tế về kinh tế - xã hội của đất nước. Công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu, rà soát, kiểm tra, hướng dẫn việc thi hành pháp luật về XLVPHC và việc chấp hành các quyết định xử phạt được Bộ Tư pháp và các bộ, ngành chú trọng thực hiện.
Bên cạnh đó, thời gian qua, tổ chức pháp chế các bộ, ngành đã chú trọng triển khai công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và bảo đảm sự gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa công tác này với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, kiểm tra, xử lý văn bản, nhất là các văn bản có tác độn trực tiếp, rộng rãi đến người dân và doanh nghiệp.
Tổ chức pháp chế các bộ, ngành đã tích cực phối hợp với Bộ Tư pháp xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Bên cạnh đó, trong năm 2020 tổ chức pháp chế các bộ, ngành, Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực tham mưu cho lãnh đạo bộ, ngành, Chính phủ tổ chức việc theo dõi thi hành pháp luật trong các lĩnh vực trọng tâm, liên ngành để kịp thời nắm bắt, đánh giá tình hình tổ chức thực hiện pháp luật (Năm 2020, Bộ Quốc phòng tập trung theo dõi thi hành các quy định về chế độ, chính sách đối với các đối tượng tham gia kháng chiến, về an toàn, vệ sinh lao động và về THADS; Bộ Công Thương ban hành Kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật theo 30 chuyên đề trong các lĩnh vực thương mại điện tử, phòng vệ thương mại, điện lực, xuất nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu; Bộ Y tế tập trung theo dõi thi hành pháp luật về quản lý chất thải y tế và đăng ký hoạt động của cơ sở dịch vụ thẩm mỹ..). Thông qua đó, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật tại các bộ, ngành ngày càng được nâng cao.
Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao tại các Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, năm 2020, các Bộ, ngành đã phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức triển khai nhiều hoạt động để thực hiện nhiệm vụ Nâng xếp hạng Chỉ số chi phí tuân thủ pháp luật.
1.4.3. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
- Năm 2020, các bộ, ngành đã tiếp tục quan tâm thực hiện tốt Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021 và các Kế hoạch, Đề án PBGDPL khác; chú trọng xây dựng các chương trình, kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, tập huấn pháp luật, nâng cao năng lực cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật; bố trí nguồn lực để triển khai thực hiện Chương trình và các Đề án, Kế hoạch đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm.
Đặc biệt, các hoạt động hưởng ứng “Ngày Pháp luật” hàng năm được tổ chức pháp chế các Bộ, ngành tổ chức hiệu quả, tạo được sự lan tỏa về tìm hiểu, tuân thủ pháp luật trong cán bộ, nhân dân.
Trong các năm 2019-2020, các bộ, ngành đã tích cực tổ chức tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; phối hợp với Bộ Tư pháp tham mưu cho Ban Bí thư ban hành Kết luận số 80/KL-TW ngày 20/6/2020 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32/CT-TW; tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành và đang tích cực triển khai thực hiện Quyết định số 1521/QĐ-TTg ngày 06/10/2020 ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 80-KL/TW.
Mặc dù số cuộc tuyên truyền, phổ biến pháp luật giảm trong bối cảnh phòng, chống dịch Covid-19 nhưng số tài liệu pháp luật được phát miễn phí cho người dân tăng mạnh, cụ thể: Các Bộ, ngành, địa phương đã tổ chức 851.570 cuộc tuyên truyền pháp luật trực tiếp (giảm 13,3% so với năm 2019); phát miễn phí gần 65 triệu bản tài liệu tuyên truyền, PBGDPL (tăng khoảng 25% so với năm 2019).
Bên cạnh các hình thức PBGDPL truyền thống, các mô hình mới, hiệu quả, nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin tiếp tục được đẩy mạnh, phát huy hiệu quả cả trong thời điểm phải thực hiện giãn cách xã hội để phòng, chống dịch Covid-19, như: tổ chức thi tìm hiểu pháp luật trực tuyến; tổ chức triển khai, phổ biến các văn bản pháp luật mới theo hình thức trực tuyến (Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam); thực hiện PBGDPL qua facebook, trang fanpage, youtube, zalo (Bộ Tư pháp, Bộ Y tế...) ; tổ chức các hội thi tìm hiểu pháp luật gắn với các lĩnh vực, các nhóm đối tượng cụ thể.
Đặc biệt, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Tập đoàn Giáo dục Egroup hoàn thành việc tổ chức Cuộc thi trực tuyến tìm hiểu kiến thức pháp luật “Pháp luật học đường”; tổ chức cuộc thi trực tuyến “Pháp luật cho mọi người” (đến nay đã có hơn 900.000 người tham gia); phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Tọa đàm “Chuyển đổi số trong công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật”để trao đổi, bàn giải pháp tiếp tục thúc đẩy ứng dụng CNTT trong công tác PBGDPL thời gian tới.
1.4.4. Công tác bồi thường nhà nước
Tổ chức pháp chế các bộ, ngành đã tiếp tục chú trọng việc thực hiện phổ biến, quán triệt và hướng dẫn thực hiện pháp luật về bồi thường nhà nước. Các bộ như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính đã phối hợp tốt với Bộ Tư pháp trong công tác bồi thường nhà nước và đạt nhiều kết quả nhất là trong công tác rà soát lập danh sách các vụ việc giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên cơ sở các nguồn thông tin. Các hoạt động tập huấn, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác giải quyết bồi thường được thực hiện thường xuyên và hiệu quả hơn. Nhìn chung, hoạt động giải quyết bồi thường được các cơ quan có trách nhiệm bồi thường thực hiện nghiêm túc. Các cơ quan đã kịp thời thụ lý các vụ việc yêu cầu bồi thường khi có đủ căn cứ; một số vụ việc phức tạp, kéo dài phát sinh đã được giải quyết dứt điểm, được nhân dân và dư luận đồng tình, ủng hộ, góp phần bảo đảm giữ vững ổn định trật tự xã hội ở địa phương.
1.4.5. Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Công tác này tiếp tục được các bộ, ngành triển khai đồng bộ với nhiều hình thức phong phú như thông qua các buổi tọa đàm về kiến thức pháp luật, các chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp, giải đáp pháp luật, tổ chức các hội nghị tập huấn, bồi dưỡng cho doanh nghiệp các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động doanh nghiệp (lao động, hợp đồng, giải quyết tranh chấp hợp đồng…). Đặc biệt, công tác này tiếp tục nhận được sự quan tâm của bộ, ngành trong việc tổ chức triển khai thực hiệnnhất là đối với doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp ở các địa bàn khó khăn. Tổ chức pháp chế các bộ, ngành đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp trong việc trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 81/2021/QĐ-TTg ngày 19/01/2021 Phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2025.
2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
2.1. Tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác pháp chế bộ, ngành năm 2020 vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau:
Một là, trong công tác xây dựng pháp luật:
- Chất lượng của một số quy định pháp luật chưa cao; tính dự báo, khả thi và ổn định của hệ thống pháp luật còn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Việc nghiên cứu, đề xuất chính sách đối với một số dự án luật do các bộ, ngành chủ trì xây dựng chưa có khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng.
Vẫn còn tình trạng các dự án, dự thảo văn bản sau khi đã đưa vào chương trình nhưng phải xin lùi, rút điều chỉnh. Tình trạng nợ, chậm văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh tại các Bộ, ngành đã kéo dài nhiều năm nhưng chưa được khắc phục hiệu quả và có xu hướng tăng trở lại trong vài năm gần đây (cuối năm 2018 nợ 04 văn bản, cuối năm 2019 nợ 10 văn bản, cuối năm 2020 nợ 15 văn bản).
- Còn khá nhiều văn bản có quy định trái pháp luật đã được phát hiện, kết luận nhưng chậm được xử lý. Việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, cá nhân liên quan đến việc ban hành văn bản trái pháp luật nhìn chung chưa được thực hiện một cách thỏa đáng, chỉ mới ở mức độ rút kinh nghiệm, phê bình, chưa bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành VBQPPL. Hiệu quả khai thác, sử dụng Bộ pháp điển chưa cao.
Hai là, trong công tác kiểm tra văn bản QPPL
Một số bộ, ngành chưa phát huy hiệu quả công tác kiểm tra, tự kiểm tra, chưa thường xuyên gửi văn bản đến cơ quan kiểm tra theo quy định của Luật ban hành VBQPPL và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; việc xử lý VBQPPL có dấu hiệu trái pháp luật còn đối phó, chưa được thực hiện dứt điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu.
Ba là, trong công tác quản lý XLVPHC, TDTHPL
Công tác này còn nhiều khó khăn, nhất là về phương thức tổ chức thực hiện; hiệu quả công tác TDTHPL ở một số bộ, ngành chưa có nhiều chuyển biến, chưa phản ánh đúng những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật. Một số cơ quan còn lúng túng trong việc xác định nội dung, giải pháp cụ thể để giảm chi phí tuân thủ pháp luật, phạm vi của chỉ số B1; tính chuyên nghiệp, kỹ năng, trình độ chuyên môn công chức, viên chức chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý trong tình hình mới.
Bốn là, trong công tác PBGDPL
Công tác này vẫn chưa khắc phục được tính hình thức; một số nội dung chưa phù hợp, chưa sát với nhu cầu người dân hoặc chưa đúng trọng tâm, còn dàn trải; công tác PBGDPL cho các đối tượng đặc thù chưa được quan tâm đúng mức.Việc tổ chức hội nghị tuyên truyền, đối thoại với doanh nghiệp chưa thường xuyên, có chiều sâu. Việc triển khai Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2019-2021” ở một số Bộ, ngành còn chậm.
Năm là, trong công tác bồi thường nhà nước
Quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước là một nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi phải có một đội ngũ chuyên trách, có chuyên môn, nghiệp vụ cơ bản được tập huấn chuyên sâu để nắm bắt được tất cả các lĩnh vực mới có thể đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước. Đến nay, còn khá nhiều vụ việc còn tồn đọng, kéo dài trong công tác bồi thường nhà nước (còn 91 vụ việc chưa giải quyết xong). Hiệu quả phối hợp giữa các ngành, các cấp trong quản lý công tác bồi thường nhà nước, trong giải quyết vụ việc bồi thường chưa chưa cao.
Sáu là, công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn chưa có trọng điểm, hiệu quả chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra
Bảy là: về tổ chức pháp chế và chất lượng đội ngũ người làm công tác pháp chế
Về cơ bản, trình độ của đội ngũ người làm công tác pháp chế ở bộ, ngành đã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhưng tại một số bộ, ngành có tính chuyên ngành, đặc thù thì số lượng đội ngũ người làm công tác pháp chế còn nhiều hạn chế (Bộ Tài chính có 34 người, Bộ Giáo dục và Đào tạo có 13 người làm công tác pháp chế...). Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong công tác pháp chế vẫn mang tính hình thức nên phần nào đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác pháp chế.
Tám là, Nghị định số 55/2011/NĐ-CP của Chính phủ được ban hành năm 2011 nhưng đến nay gần như không hiệu quả khi các địa phương không còn thành lập tổ chức pháp chế mà chỉ bố trí cán bộ pháp chế chuyên trách, thậm chí chỉ là cán bộ pháp chế kiêm nhiệm, do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác pháp chế của các bộ, ngành có hệ thống ngành dọc ở địa phương.
2.2. Nguyên nhân
2.2.1. Nguyên nhân chủ quan
- Mặc dù đã có sự quan tâm hơn, nhưng một số bộ, ngành vẫn chưa chú trọng nhiều cho công tác tư pháp, pháp chế; sự quan tâm đầu tư nguồn lực cho công tác này chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.
- Ý thức trách nhiệm, tính chủ động trong thực hiện nhiệm vụ của một số công chức, viên chức làm công tác pháp chế vẫn còn thấp; việc đề xuất kế hoạch công tác đối với một số nhiệm vụ, trong một số lĩnh vực chưa sát với thực tế điều kiện triển khai.
- Sự phối hợp giữa các bộ, ngành ở Trung ương trong thực hiện công tác pháp chế vẫn còn hạn chế; công tác chỉ đạo, điều hành có lúc, có việc còn thiếu chủ động, quyết liệt; sự tham mưu của một số đơn vị thuộc bộ cho lãnh đạo các bộ, ngành có trường hợp chưa kịp thời, đầy đủ.
2.2.2. Về khách quan
- Năm 2020, dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của nước ta. Chính phủ, các bộ, ngành phải tập trung nguồn lực cho công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả dịch bệnh, xây dựng một văn bản QPPL đặc thù cho việc hỗ trợ người dân, doanh nghiệp ứng phó với dịch bệnh Covid-19 nên công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết có độ trễ so với tiến độ được phân công.
- Các cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng văn bản quy định chi tiết chưa thực sự chủ động, quyết liệt.Việc đầu tư thời gian, nguồn lực cho công tác xây dựng, ban hành văn bản còn hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu, tính chất phức tạp của công việc này.
- Việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật trong xây dựng văn bản ở một số nơi còn chưa nghiêm, trong khi việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân do chậm ban hành văn bản quy định chi tiết hoặc trong văn bản quy định chi tiết có nội dung trái pháp luật còn nhiều vướng mắc.
- Số lượng cán bộ làm công tác pháp chế có xu hướng giảm nhất là cán bộ pháp chế chuyên trách nên đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác pháp chế ở các bộ, ngành.
- Sau hơn 9 năm tổ chức thi hành, Nghị định số 55/2011/NĐ-CP của Chính phủ đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
- Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước về tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy theo các văn bản như Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015;Nghị quyết số 18-NQ-TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả... nên việc bổ sung biên chế làm công tác pháp chế ở bộ, ngành còn gặp nhiều khó khăn, điều này cũng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc được giao của tổ chức pháp chế.
Mặt khác, hiện nay chưa có cơ chế chính sách thu hút, ưu đãi và chế độ đãi ngộ thích hợp đối với người làm công tác pháp chế nên chưa thu hút được người có đủ năng lực, trình độ làm công tác này.
3. Đánh giá chung
Nhìn chung, vai trò chỉ đạo của lãnh đạo các bộ, ngành trong công tác pháp chế ngày càng được tăng cường. Nhiều bộ, ngành đã có chỉ thị, kế hoạch nhằm triển khai và tăng cường công tác pháp chế; chỉ đạo sát sao, kiểm tra thường xuyên, tạo điều kiện thuận lợi về biên chế, cơ sở vật chất; giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn; đồng thời, chỉ đạo việc phối hợp giữa các đơn vị với các tổ chức pháp chế trực thuộc bộ, ngành. Với sự tham mưu của tổ chức pháp chế, công tác pháp chế của các bộ, ngành đã đạt được những kết quả nhất định trong năm 2020. Những kết quả đó đã tiếp tục thể hiện sự đóng góp quan trọng của công tác pháp chế vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Bên cạnh những kết quả nêu trên, công tác pháp chế còn có một số khó khăn, hạn chế: chất lượng một số văn bản QPPL chưa cao, còn có sai sót; tình trạng nợ đọng thông tư của các bộ, cơ quan ngang bộ quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh còn nhiều; quản lý xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật còn nhiều khó khăn; hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực sự gắn với trọng tâm về phát triển kinh tế-xã hội của đất nước...do đó, cần kịp thời có các giải pháp khắc phục để bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ trong năm 2021.
4. Một số nhiệm vụ công tác pháp chế của các Bộ, ngành trong năm 2021
4.1. Về công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hợp nhất VBQPPL và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật
- Triển khai có hiệu quả Kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ thực hiện Kết luận số 83-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW (ban hành kèm theo Quyết định số 04/QĐ-TTg ngày 07/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ); Tổ chức tập huấn, hướng dẫn và triển khai thực hiện tốt Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL; Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật.
- Thực hiện hiệu quả Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, hạn chế việc đề nghị bổ sung, lùi thời hạn trình, rút dự án ra khỏi Chương trình; chú trọng đánh giá tác động của chính sách trong các đề nghị xây dựng. Tập trung xây dựng, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; xem xét, xử lý trách nhiệm của cá nhân, tập thể trong việc chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết (theo yêu cầu của Quốc hội tại Nghị quyết số 134/2020/QH14 ngày 17/11/2020).
- Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác thẩm định VBQPPL; chú trọng tính dự báo, tính khả thi của chính sách, quy định để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống.
- Triển khai thực hiện tốt công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL. Trong đó, tập trung theo sát thực tế ban hành văn bản của các cơ quan, nhất là các văn bản có liên quan trực tiếp, rộng rãi đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, môi trường đầu tư, kinh doanh; văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, không phù hợp được dư luận xã hội quan tâm để thực hiện công tác kiểm tra, rà soát văn bản. Thực hiện các biện pháp đẩy mạnh hiệu quả xử lý văn bản trái pháp luật; báo cáo, kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý đối với những trường hợp cần thiết liên quan đến văn bản trái pháp luật (kể cả xử lý văn bản và xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân tham mưu, ban hành).
- Thực hiện thường xuyên công tác rà soát VBQPPL thuộc trách nhiệm của các bộ, ngành. Tiếp tục tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản QPPL theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 12/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ, nhất là việc xử lý các văn bản có nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp đã được phát hiện qua đợt rà soát năm 2020. Thực hiện kịp thời, hiệu quả công tác hợp nhất VBQPPL; thực hiện pháp điển các đề mục của Bộ Pháp điển bảo đảm chất lượng, hiệu quả và đúng tiến độ, lộ trình đề ra trong năm 2021; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giới thiệu và hướng dẫn khai thác sử dụng Bộ pháp điển.
4.2. Về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
- Các bộ, ngành có kế hoạch cụ thể và ưu tiên nguồn lực tổ chức thực hiện tốt Quyết định số 1521/QĐ-TTg ngày 06/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Hoàn thành việc thực hiện Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2019 - 2021”.
- Triển khai công tác PBGDPL toàn diện, rộng khắp, hướng mạnh về cơ sở, trong đó tập trung vào các văn bản pháp luật mới được ban hành và pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tăng cường ứng dụng CNTT, tiếp tục nghiên cứu, triển khai chuyển đổi số trong công tác PBGDPL. Xây dựng Tủ sách pháp luật điện tử quốc gia.
4.3. Về công tác bồi thường nhà nước
Tiếp tục thi hành hiệu quả Luật TNBTCNN năm 2017 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Tăng cường phối hợp với Tòa án, Viện kiểm sát, các Bộ, ngành ở Trung ương và địa phương trong thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường và trong phối hợp giải quyết các vụ việc tồn đọng, kéo dài, các vụ việc đã thụ lý trong năm 2020.
4.4. Về công tác xử lý vi phạm hành chính và theo dõi THPL
Tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật” giai đoạn 2018-2022 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; nghiên cứu khả năng xây dựng Luật tổ chức thi hành pháp luật. Tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật, gắn với công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và kiểm soát thủ tục hành chính; tập trung vào các lĩnh vực thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận, lĩnh vực được xác định là trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội năm 2021. Đôn đốc các bộ, ngành xây dựng để kịp thời ban hành hoặc trình ban hành các văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh nhằm khắc phục triệt để tình trạng nợ ban hành văn bản quy phạm pháp luật, sớm đưa các luật, pháp lệnh vào cuộc sống.
Tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm chất lượng, tiến độ xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này. Các bộ, ngành tập trung xây dựng, trình Chính phủ ban hành "chùm" nghị định về xử lý, xử phạt VPHC để phù hợp với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC và tình hình thực tế hiện nay.
Tổ chức thực hiện có hiệu quả Quyết định số 1521/QĐ-TTg ngày 06/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tăng cường ứng dụng CNTT trong công tác này.
Tiếp tục thực hiện cắt giảm Chi phí tuân thủ pháp luật, góp phần duy trì và tiếp tục cải thiện điểm số và vị trí xếp thứ hạng của Việt Nam về Chỉ số này theo mục tiêu, yêu cầu của Chính phủ.
4.5. Về công tác pháp chế
- Tập trung kiện toàn tổ chức, biên chế làm công tác pháp chế theo chỉ đạo của Ban cán sự Đảng Chính phủ thực hiện Kết luận số 83-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW và Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật
- Nghiên cứu, xây dựng và triển khai việc xây dựng các Thông tư của các bộ, ngành hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn theo ngành dọc ở địa phương, theo đó, quy định rõ nhiệm vụ pháp chế trong các Thông tư này.
- Tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Tiếp tục tổ chức các hội nghị,hội thảo, tọa đàm, tập huấn về công tác pháp chế nhằm tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức pháp chế và tăng cường năng lực những người làm công tác pháp chế ở các bộ, ngành; thường xuyên đôn đốc các bộ, ngành trong việc củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực cho tổ chức pháp chế và việc triển khai thực hiện công tác pháp chế./.
Vụ Các vấn đề chung về XDPL
* Các số liệu trong bài viết được tham khảo từ Tài liệu phục vụ Hội nghị toàn quốc triên khai công tác tư pháp năm 2021, định hướng nhiệm kỳ 2021-2025 (Hà Nội ngày 23/12/2020).