Một số vấn đề về Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật thuộc Bộ chỉ số Đổi mới sáng tạo
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

Một số vấn đề về Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật thuộc Bộ chỉ số Đổi mới sáng tạo

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật là một chỉ số thành phần thuộc Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo, được Chính phủ Việt Nam Chính phủ lần đầu tiên chỉ đạo thực hiện tại Nghị quyết số19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủyếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020. Bài viết này nhằm cung cấp cho độc giả những vấn đề cơ bản về Đổi mới sáng tạo, hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu; định nghĩa, nội hàm, phương pháp đánh giá của các tổ chức quốc tế đối với Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật  và hiện trạng điểm số và thứ hạng của Việt Nam về Chỉ số này trong thời gian vừa qua. Qua đó, giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quan về Chỉ số này.
Đổi mới sáng tạo, hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu
Đổi mới sáng tạo là gì? Thuật ngữ “Innovation” (tiếng Việt hiện nay dịch là “đổi mới sáng tạo”, viết tắt là ĐMST) mới chỉ xuất hiện trong văn khoa thế giới vào nửa đầu thế kỷ XX, nhưng vai trò của những tiến bộ khoa học và công nghệ đến tăng trưởng kinh tế đã được các nhà kinh tế học đề cập ngay từ rất sớm, điển hình là những nghiên cứu của Carl Mark về vấn đề này. Tuy nhiên, phải đến Joseph Schumpeter, nhà kinh tế học, xã hội học người Áo (1883 -1950), khái niệm ĐMST mới được phân tích một cách có hệ thống. Schumpeter (1934) đưa ra khái niệm ĐMST và phân chia ĐMST thành năm loại, bao gồm: (i) đưa ra sản phẩm mới; (ii) đưa ra các phương pháp sản xuất mới; (iii) mở ra thị trường mới; (iv) phát triển các nguồn mới cung cấp vật liệu thô hay các loại đầu vào mới khác; (v) tạo ra cấu trúc thị trường mới trong một ngành. Schumpeter đã đặt nền móng cho một ngành khoa học nghiên cứu về ĐMST, một lĩnh vực đã và đang phát triển rực rỡ cho đến ngày nay. ĐMST được định nghĩa là việc đưa ra một sản phẩm (hàng hóa hoặc dịch vụ) mới hoặc một sản phẩm được cải tiến đáng kể, hoặc đưa ra và thực hiện qui trình công nghệ mới, phương pháp tiếp thị mới, một phương pháp tổ chức mới trong hoạt động kinh doanh, trong tổ chức nơi làm việchoặc trong quan hệ với bên ngoài (OECD, 2005).
Hệ thống ĐMST chú trọng đến việc khai thông, tăng cường tương tác giữa các thực thể, phát triển những thể chế hỗ trợ cho tương tác học hỏi, phát triển môi trường thân thiện cho ĐMST, tăng khả năng ứng phó, đáp ứng của hệ thống trước những cơ hội, hay thay đổi.
Hệ thống ĐMST được xem xét theo trọng tâm và tầm bao quát khác nhau. Hệ thống ĐMSTquốc gia tập trung xem xét những tổ chức, thể chế có tầm ảnh hưởng vĩ mô tới các thực thể trong phạm vi biên giới quốc gia. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia ĐMST không chỉ xuất phát từ nghiên cứu và phát triển, mà chủ yếu nảy sinh từ quá trình làm việc, sử dụng và tương tác. Học hỏi mang tính tương tác của doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm của hệ thống ĐMST. Theo cách tiếp cận này, ngoài KH&CN, hệ thống ĐMST còn có các thể chế xã hội, điều hành kinh tế vĩ mô, hệ thống tài chính, cơ sở hạ tầng giáo dục và truyền thông, các điều kiện thị trường. Lundvall, Chaminade và Vang (2009) đề xuất định nghĩa về hệ thống ĐMST quốc gia như sau: “Hệ thống ĐMST quốc gia là một hệ thống mở, tiến hóa và phức tạp, bao gồm những quan hệ bên trong mỗi tổ chức và giữa các tổ chức, thể chế và cấu trúc kinh tế -xã hội, qui định tốc độ và đường hướng đổi mới cũng như việc xây dựng năng lực chuyên môn xuất phát từ quá trình học hỏi dựa trên khoa học và học hỏi dựa trên kinh nghiệm”.
Ý tưởng về bộ Chỉ số Đổi mới toàn cầu (Global Innovation Index, viết tắt là GII) được đưa ra bởi Giáo sư Dutta của Viện INSEAD năm 2007, với mục tiêu duy nhất nhằm xác định làm thếnào đểcó được những sốliệu và phương pháp tiếp cận cho phép nắm bắt tốt hơn mức độcủa ĐMST và hiệu quả của hệ thống ĐMST của các quốc gia, nền kinh tế. Thách thức lớn là tìm sốliệu phản ánh trung thực ĐMST trên thếgiới.
Chỉ số GII là một bộ công cụ đánh giá xếp hạng năng lực của các hệ thống ĐMST quốc gia, được Trường kinh doanh INSEAD (Pháp) xây dựng lần đầu tiên vào năm 2007. Sau đó, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và Đại học Cornell (Hoa Kz) đã tham gia để phát triển phương pháp luận và xây dựng mô hình đánh giá phù hợp hơn. Bộ công cụ đo này được cho là tốt hơn, phong phú và xác đáng hơn so với các thước đo ĐMST truyền thống như sốlượng các bài báo nghiên cứu được công bố, số đăng ký bằng sáng chế hay chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (NC&PT). Khung chỉ số GII trong đánh giá của Tổ chức WIPO, ĐMST được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là ĐMST dựa trên NC&PT mà còn là những ĐMST không dựa trên NC&PT và bao trùm cả ĐMST về tổchức, thị trường v.v... Với cách tiếp cận này, GII được tích hợp từ số đo (được quy chuẩn) của bảy (07) trụcột lớn (pillars), mỗi trụ cột lớn được tích hợp từ số đo của ba (03) trụ cột nhỏ(sub-pillar, tạm gọi là nhóm chỉ số). Mỗi nhóm chỉ số bao gồm từ 02 đến 05 chỉ số thành phần (indicators), tổng thể có khoảng 70 -80 chỉ số thành phần, thay đổi tùy từng năm. Năm 2018, có 80 chỉ số thành phần được sử dụng. Có 03 chỉ số tổng hợp (index) chính được tính toán, đo lường gồm: (1) chỉ số tổng hợp về đầu vào ĐMST, (2) chỉ số tổng hợp về đầu ra ĐMST, và (3) chỉ số tổng hợp ĐMST. ĐMST là trung bình cộng đơn giản của Chỉ sốtổng hợp về Đầu vào và Chỉ số tổng hợp về Đầu ra.
Chỉ số tổng hợp về Đầu vào ĐMST: Bao gồm năm (05) trụ cột đầu vào phản ánh những yếu tố trong nền kinh tế tạo điều kiện cho các hoạt động ĐMST.
- Trụ cột 1: Thể chế, gồm 03 nhóm chỉ số về môi trường chính trị, môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh.
Trụ cột 2: Nguồn nhân lực và nghiên cứu, gồm 03 nhóm chỉ số về giáo dục, giáo dục đại học, nghiên cứu và phát triển,
- Trụ cột 3: Cơ sở hạ tầng, gồm 03 nhóm chỉ số:
- Trụ cột 4: Trình độ phát triển của thị trường, gồm 03 nhóm chỉ số về tín dụng, đầu tư, thương mại, cạnh tranh, quy mô thị trường.
- Trụ cột 5: Trình độ phát triển kinh doanh, gồm 03 nhóm chỉ số về lao động có kiến thức, liên kết sáng tạo, hấp thu tri thức.
 Chỉ số tổng hợp về Đầu ra ĐMST là kết quả của các hoạt động ĐMST trong một nền kinh tế. Đầu ra của ĐMSTcó hai trụ cột chính là:
- Trụ cột 6: Sản phẩm tri thức và công nghệ, gồm 03 nhóm chỉ số về sản phẩm kiến thức và công nghệ, tác động của tri thức, lan tỏa tri thức.
- Trụ cột 7: Sản phẩm sáng tạo, gồm 03 nhóm chỉ số về tài sản vô hình, sản phẩm và dịch vụ sáng tạo, sáng tạo trực tuyến.
Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật thuộc Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo
Tên chỉ số Cải thiện Chất lượng các quy định pháp luật, tên gốc tiếng AnhRegulatory quality (Chất lượng các quy định pháp luật). Chỉ số này tổng hợp ý kiến đánh giá về năng lực của chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, quy định pháp luật hợp nhằm cho phép và thúc đẩy sự phát triển của khu vực tư nhân. Chất lượng quy định pháp luật có tác động quan trọng đến hoạt động ĐMST của các đối tượng liên quan. Đây là chỉ số tổng hợp (index). Giá trị của chỉ số càng cao thì điểm số và thứ hạng trong GII càng cao (thứ hạng của từng năm còn phụ thuộc vào số lượng quốc gia được đánh giá, xếp hạng của năm đó).
Chỉ số này là một trong 6 chỉ số tổng hợp về quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Index, viết tắt là WGI) do Ngân hàng thế giới phát triển đánh giá. Chỉ số WGI là một dự án nghiên cứu đã thực hiện trong một thời gian dài,xây dựng các chỉ số xuyên quốc gia về quản trịnhà nước. WGI bao gồm 6 chỉ số tổng hợp về quản trị, tính toán cho hơn 200 quốc gia kể từ năm 1996. Sáu chỉ số tổng hợp bao gồm: (i) Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability), (ii) Ổn định chính trị và không có bạo lực/khủng bố(Political Stability and Absence of Violence/Terrorism), (iii) Hiệu quả của chính phủ(Government Effectiveness),(iv) Chất lượng các quy địnhpháp luật (Regulatory Quality--chính là chỉ số 1.2.1. này của GII),(v) Luật pháp(Rule of Law) và (vi) kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption). Các chỉ số này dựa trên vài trăm chỉ số thành phần thu được từ 31 nguồn dữ liệu khác nhau, nắm bắt cảm nhận, đánh giá về quản trị theo ý kiến của những người tham gia khảo sát, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tư và các tổ chức công trên toàn thế giới. Chỉ số này của Việt Nam được WGI sử dụng từ 10 đánh giá với các cách thức thu thập thông tin khác nhau.
(i) Đánh giá về thể chế và chính sách -Asian Development Bank Country Policy and Institutional Assessments (ASD) –do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) thực hiện. ADB đánh giá 16 khía cạnh về chính sách và thể chếcủa mỗi quốc gia. Phản hồi được mã hoá theo thang điểm 6 (từ 1 đến 6). Các thông tin này được sử dụng để phân bổ các khoản vay ưu đãi của Ngân hàng ADB.Có 02 khía cạnh được WGI sử dụng để tính toán chỉ số Chất lượng của các quy định pháp luật: Chính sách thương mại; Môi trường pháp luật kinh doanh.
Kinh tế trưởng của ADB tại các quốc gia là người trực tiếp đánh giá các nội dung này, sau đó nhóm đánh giá của ADB sẽ rà soát lại để so sánh. Đánh giá được thực hiện hàng năm, từ năm 2000 đến nay với trên 25 quốc gia ở khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam.
(ii) Chỉ số Bertelsmann Transformation Index (BTI) –do Quỹ Bertelsmann Foundation là tổ chức phi chính phủ có trụ sở chính ở Đứcthực hiện. Yếu tố liên quan tới Chất lượng các quy địnhpháp luậtđược tổ chức này đánh giá và WGI sử dụng là Tổ chức thị trường và Cạnh tranh. Các cán bộ của Quỹ đánh giátheo thang điểm từ 1 đến 10. Quỹ Bertelsmann đánh giá các chỉ số liên quan đến Chất lượng các quy định pháp luật từ 2 đến 3 năm một lần, bắt đầu từ 2003 với trên 120 quốc gia, nền kinh tế, trong đó có Việt Nam.
(iii) Tổ chức Economist Intelligence Unit (EIU), là một tổ chức chuyên cung cấp thông tin, có trụ sở chính ở London, Anh. Các yếu tố do tổ chức này đánh giá liên quan tới Chất lượng các quy địnhpháp luậtbao gồm:
- Các trường hợp cạnh tranh không lành mạnh;
- Quản lí giá;
- Phân biệt đối xử trong các rào cản thương mại;
- Bảo hộ quá mức;
- Phân biệt đối xử trong thuế quan.
Các yếu tố này được đánh giá dựa trên ý kiến của mạng lưới 500 chuyên gia trên toàn thế giới của Quỹ Bertelsmann, được kiểm tra tính thống nhất bởi các chuyên gia khu vực. Các yếu tố được chuyên gia đánh giá theo điểm từ 1 đến 4 với 4 là kém nhất, sau đó được chia trung bình. Thông tin được thu thập và cập nhật hàng tháng, từ năm 1997 đến nay của khoảng 180 quốc gia, nền kinh tế, trong đó có Việt Nam.
(iv) Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thông qua khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp trong và ngoài nước về một loạt các vấn đề liên quan đến môi trường kinh doanh (khảo sát năng lực cạnh tranh toàn cầu). Khảo sát có câu hỏi được WGI sử dụng tính toán chỉ số Chất lượng của các quy định pháp luật như sau:
- Gánh nặng của các quy định nhà nước: Câu hỏi khảo sát “Ở nước bạn, các doanh nghiệp phải vất vả tuân thủ các yêu cầu hành chính của chính phủ như thế nào (ví dụ như giấy phép, quy định, báo cáo)”? *1 = cực kỳ vất vả; 7 = không vất vả chút nào].
- Tác động của thuế: Câu hỏi khảo sát “Ở nước bạn, thuế làm giảm động lực đầu tư ở mức độ nào? *1 = làm giảm đáng kể động lực đầu tư; 7 =không giảm bớt động lực đầu tư.
- Rào cản thương mại: Câu hỏi khảo sát “Tại quốc gia của bạn, rào cản phi thuế quan (ví dụ: tiêu chuẩn sức khoẻ và sản phẩm, yêu cầu về kỹ thuật và ghi nhãn, v.v.) hạn chế khả năng hàng hoá nhập khẩu cạnh tranh trong thị trường nội địa ở mức độ nào? *1 = hạn chế rất nhiều; 7 = không hạn chế gì cả].
- Cạnh tranh trong nước: Câu hỏi khảo sát “Ở nước bạn, mức độ cạnh tranh gay gắt của thị trường trong nước là như thế nào?” *1 = không gay gắt; 7 = cực kỳ gay gắt].
- Chính sách chống độc quyền: Câu hỏi khảo sát “Ở nước bạn, chính sách chống độc quyền thúc đẩy cạnh tranh ở mức độ nào?” *1 = không thúc đẩy cạnh tranh; 7 = thúc đẩy cạnh tranh một cách hiệu quả.
- Các quy định về môi trường: Câu hỏi khảo sát “Bạn đánh giá mức độ nghiêm ngặt của những quy định về môi trường tại quốc gia bạn?”[1 = quy định rất lỏng lẻo; 7 = thuộc những nước trên thế giới có quy định nghiêm ngặt nhất.
Thông tin được thu thập từ khảo sát ý kiến doanh nghiệp hàng năm, từ năm 1996 đến nay của hơn 130 quốc gia, nền kinh tế, trong đó có Việt Nam.
(v) Đánh giá về điều kiện và rủi ro kinh doanh,Global Insight Business Risk and Conditions (WMO).Đánh giá này phản ánh đánh giá của các nhà phân tích của Global Insight về chất lượng và sự ổn định của các khía cạnh khác nhau của môi trường kinh doanh, trong đó có vấn đề về Chất lượng các quy định pháp luật. Bốn yếu tố được xem xét bao gồm:
- Hiệu quả về Thuế: Hiệu quả của hệ thống thu thuế quốc gia là như thế nào. Các quy tắc có thể rõ ràng và minh bạch, nhưng liệu chúng có được thực thi một cách nhất quán hay không. Yếu tố này xem xét tính hiệu quả tương đối của hệ thống thuế đối với doanh nghiệp và cá nhân, thuế gián tiếp và trực tiếp.
- Pháp luật: Đánh giá về việc các quy định pháp luật kinh doanhcần thiết đã có hay chưa và có gì chưa có hay không. Điều này bao gồm mức độ mà pháp luật của quốc gia phù hợp và được các hệ thống pháp luật của các nước khác tôn trọng.
- Gánh nặng quy định: Khả năng có rủi ro là hoạt động kinh doanh bình thường trở nêntốn kém hơn do môi trường pháp lý. Điều này bao gồm việc tuân thủ quy định và thiếuhiệu quả về mặt quan liêu và/hoặc không minh bạch. Các gánh nặng pháp lý khác nhau giữa các ngành, vì vậy, các ngành quan trọng hơn của nền kinh tế sẽ được đánh trọng số lớnhơn.
- Sự không nhất quán về thuế: Sự không thống nhất về thuế cũng bao gồm rủi ro các khoản phạt tiền và hình phạt được áp dụng do không tuân thủ với một mã số thuế không cân xứng hoặc bị thao túng vì các mục đích chính trị.Các thông tin này được thu thập hàng năm và cập nhật trực tuyến hàng ngày từ hơn 200 quốc gia, nền kinh tế, trong đó có Việt Nam.
 (vi) Chỉ số tổng hợp về Tự do kinh tế, Index of Economic Freedom (HER) do Quỹ Heritage Foundation có trụ sở tại Mỹ thực hiện. Chỉ số này có 10 chỉ số thành phần. Ba chỉ số thành phần được đánh giá dựa trên ý kiến chủ quan của nhân viên Quỹ Heritage và được so sánh theo thời gian là Tự do Đầu tư, Tự do Tài chính, và Quyền Sở hữu. Các chỉ số thành phần này được đánh giá trên thang điểm 100. Năm 2016, phương pháp luận cho các chỉ tiêu Quyền sở hữu đã được thay đổi và không được đưa vào WGI nữa. Như vậy, để tính toán chỉ số Chất lượng của các quy định pháp luật, hiện WGI sử dụng các chỉ số thành phần từ nguồn HER sau đây:
- Tự do đầu tư;
- Tự do tài chính. Đánh giá được thu thập hàng năm, từ năm 1995 đến nay cho khoảng 180 quốc gia, nền kinh tế, trong đó có Việt Nam.
(vii) Đánh giá khu vực nông thôn, IFAD Rural Sector Performance Assessments (IFD) do Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế (International Fund for Agricultural Development IFAD) thực hiện. Đánh giá của IFAD liên quan tới Chất lượng của các quy định pháp luậtđược WGI sử dụng bao gồm:
- Tạo điều kiện cho phát triển dịch vụ tài chính nông thôn;
- Môi trường đầu tư cho doanh nghiệp nông thôn;
- Tiếp cận thị trường đầu vào và thị trường nông sản.
Các nội dung này được đánh giá bởi chuyên gia của IFAD tại hơn 100 quốc gia, nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Đánh giá được thực hiệnhàng năm từ năm 2004, đến năm 2015 chuyển sang đánh giá 3 năm/lần.
(viii) Đánh giá về thể chế do Chính phủ Pháp thực hiện dựa trên ý kiến của nhân viên Chính phủ Pháp tại các nước, xây dựng thành một cơ sở dữ liệu về thể chế của các quốc gia (Institutional Profiles Database, IPD). Có thể tiếp cận dữ liệu trên trang điện tử http://www.cepii.fr/ProfilsInstitutionnelsDatabase.htm. Cơ sở dữ liệu này trình bày một bộ các chỉ số về đặc điểm thể chế của 100 nước phát triển và đang phát triển. Phạm vi chủ đề bao gồm một phạm vi rộng các đặc điểm thể chế này: chức năng của các thể chế chính trị, an ninh công, quản trị công, tự do hoạt động của thị trường, phối hợp các bên liên quan và tầm nhìn chiến lược của các cơ quan và các đại lý, an ninh giao dịch, các quy định của thị trường và quản trị doanh nghiệp , đối thoại xã hội, sự cởi mở của xã hội và thị trường, sự gắn kết xã hội.
Có 08 thông tin của CSDL này được WGI sử dụng cho chỉ số Chất lượng của các quyđịnh pháp luậtbao gồm:
- Mức độ dễ dàng trong việc khởi sự kinh doanh theo quy định pháp luật trong nước;
- Mức độ dễ dàng trong việc thành lập chi nhánh cho một công ty nước ngoài;-Các chi phí hành chính;
- Trợ giá của nhà nước (cho lương thực và các mặt hàng thiết yếu khác, không kể dầu);
- Trợ giá của nhà nước đối với xăng dầu tại trạm bơm;
- Tầm quan trọng của các rào cản đối với các đối thủ cạnh tranh mới trong thị trường hàng hoá và dịch vụ trên thực tế liên quan đến quản lí hành chính (không bao gồm lĩnh vực tài chính và không tính những trở ngại nhỏ hẹp của thị trường);
- Tầm quan trọng của các rào cản đối với các đối thủ cạnh tranh mới trong thị trường hàng hoá và dịch vụ liên quan đến các thông lệ hiện có của đối thủ cạnh tranh (không bao gồm tài chính và không tính các trở ngại nhỏ hẹp của thị trường);
- Tính hiệu quả của các quy định cạnh tranh trong khu vực thị trường (không bao gồm khu vực tài chính). Nhân viên của Chính phủ Pháp ở các nước được đề nghị đánh giá theo thang điểm từ 0 đến 4, thực hiện gần như 3 năm một lần, từ năm 2006 đến nay đối với hơn 100 quốc gia, nền kinh tế, trong đó có Việt Nam.
(ix) Đánh giá Political Risk Services International Country Risk Guide (PRS)do tổ chức Political Risk Services có trụ sở đặt tại Mỹ, thực hiện. Tổ chức này đánh giá 12 yếu tố khác nhau của môi trường chính trị và kinh doanh mà các công ty đang hoạt động trong một quốc gia. WGI sử dụng đánh giá về các vấn đề liên quan tới Đầu tưđể tính toán chỉ số Chất lượng của các quy định pháp luậttừ nguồn dữ liệu này. Nội dung Đầu tư được các chuyên gia của PRS đánh giá và có chuyên gia khu vực rà soát lại. Thông tin đánh giá được thực hiện hàng tháng từ năm 1984 và dữ liệu báo cáo tháng 12 hàng năm của khoảng 140 quốc gia, nền kinh tế, trong đó cóViệt Nam.
(x) Chỉ số Quy định pháp luật do dự án World Justice Project Rule of Law Index (WJP) do một tổ chức phi chính phủ có trụ sở đặt tại Mỹ thực hiện. Tổ chức này xếp hạng các tiểu hợp phần về luật pháp dựa trên hơn 500 câu hỏi khảo sát. Một số nội dung khảo sát được thực hiện với các chuyên gia hàng năm; một số nội dung được thực hiện thông qua khảo sát người dân ba năm một lần. Đối với chỉ số Chất lượng của các quy định pháp luật, WGI sử dụng thông tin đánh giá về Việc thực thi các quy định pháp luậtcủa WJP.Dữ liệu cho bản cập nhật 2017 không có sẵn nên WGI sử dụng dữ liệu từ báo cáo năm 2016 cho cả năm 2016 và 2015.Khảo sát được thực hiện tại hơn 100 quốc gia, nền kinh tế, trong đó có Việt Nam[1].
Hiện trạng điểm số và thứ hạng của Việt Nam về Chỉ số cải thiện chất lượng các quy đinh của pháp luật
Ngày 06/02/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số19-2017/NQ-CP vềtiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủyếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020. Lần đầu tiên, Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo, trong đó có Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật được Chính phủ chỉ đạo thực hiện. Theo Phụ lục IV kèm theo Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP, Bộ Tư pháp được giao “Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương cải thiện chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật thuộc bộ chỉ số Đổi mới sáng tại (GII)”. Các nghị quyết của Chính phủ năm 2018, 2019, 2020 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, không quy định lại về Chỉ số này mà chỉ giao cho các Bộ, ngành tiếp tục triển khai thực hiện các Chỉ số đã ban hành tại Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP.
Hiện trạng điểm số và thứ hạng của Việt Nam về Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật như sau:
Mã Chỉ số Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
1.2.1 Giá trị Điểm số Thứ hạng Giá trị Điểm số Thứ hạng Giá trị Điểm số Thứ hạng Giá trị Điểm số Thứ hạng Giá trị Điểm số Thứ hạng
-0.59 30.1 103 -0.50 29.4 100 -0.50 32.5 99 0.4 31.30 97 0.4 31.6 99
Từ Bảng trên có thấy Chỉ số cải thiện chất lượng của Việt Nam có chiều cải thiện, gia tăng về mặt giá trị qua các năm, cho thấy nỗ lực của nhà nước Việt Nam trong việc thúc đẩy cải cách thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
                  
          Nguyễn Trà My, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật
 
[1] Tài liệu tham khảo: Sổ tay hướng dẫn về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Bộ Khoa học và Công nghệ