Quy định về thủ tục Cấp Phiếu lý lịch tư pháp – bất cập, hạn chế và đề xuất, kiến nghị sửa đổi
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

Quy định về thủ tục Cấp Phiếu lý lịch tư pháp – bất cập, hạn chế và đề xuất, kiến nghị sửa đổi

Lý lịch tư pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường làm cho các quan hệ xã hội cũng ngày càng phong phú và đa dạng, Phiếu lý lịch tư pháp được coi là giấy tờ pháp lý quan trọng chứng minh cá nhân có hay không có án tích khi tham gia vào các quan hệ pháp lý, đặc biệt là trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ đề cập đến quy định hiện hành về thủ tục Cấp Phiếu lý lịch tư pháp, những bất cấp, hạn chế của các quy định và đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định để đảm bảo thủ tục Cấp Phiếu lý lịch tư pháp đáp ứng tiêu chí về sự cần thiết, tính hợp pháp, tính hợp lý và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính (TTHC) là thấp nhất.
I. Quy định về thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (khoản 2 Điều 19) và ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 25). Trong quyền tiếp cận thông tin thì cá nhân có quyền tiếp cận thông tin về tình trạng án tích của mình và điều này cũng đã được ghi nhận trong Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, cụ thể là cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước chứng minh cá nhân có hay không có án tích, có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Bên cạnh đó, để hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự và thống kê tư pháp hình sự; hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã thì Luật Lý lịch tư pháp cũng đã mở rộng quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho tổ chức (cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan tiến hành tố tụng).
Để thực hiện quyền này, cá nhân, tổ chức phải thực hiện quy định về thủ tục Cấp phiếu lý lịch tư pháp được quy định tại Luật Lý lịch tư pháp (từ điều 41 đến điều 50); Nghị định 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp (từ Điều 24 đến Điều 28); Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10 tháng 5 năm 2012 hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp (từ Điều 19 đến Điều 23); Thông tư số 03/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp (Điều 3); Thông tư số 16/2013/TT-BTP ngày 11/11/2013 của Bộ Tư pháp Sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP ngày 27 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp và Thông tư số 244/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Điều 4, 5).
Thủ tục Cấp Phiếu lý lịch tư pháp được quy định cụ thể như sau:
Đối tượng thực hiện thủ tục: Theo Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp thì những đối tượng sau đây có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của mình; cơ quan tiến hành tố tụng có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.
Cơ quan thực hiện thủ tục: Theo Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp thì thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp được quy định như sạu Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân Việt Nam mà không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú; người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam; Sở Tư pháp thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở trong nước; công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài và người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam.
Trình tự thực hiện thủ tục: Cá nhân, cơ quan, tổ chức nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp tại cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp như đã trình bày nêu trên. Cá nhân, cơ quan, tổ chức nhận kết quả tại nơi nộp hồ sơ.
Cách thức thực hiện thủ tục: Cá nhân nộp hồ sơ trực tiếp, cơ quan, tổ chức gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
Thành phần hồ sơ: Cá nhân, cơ quan, tổ chức nộp 01 bộ hồ sơ cụ thể như sau:
Hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với cá nhân gồm:
+ Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo mẫu quy định (Mẫu số 03/2013/TT-LLTP; Mẫu số 04/2013/TT-LLTP);
+ Đối với người nước ngoài: Bản sao hộ chiếu; Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú hoặc giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam (Trường hợp nộp bản chụp thì phải xuất trình bản chính để đối chiếu. Trường hợp không có bản chính để đối chiếu thì nộp bản sao có chứng thực theo quy định của pháp luật). Trường hợp không có các giấy tờ này thì có thể nộp hộ chiếu hoặc thị thực rời của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp đã được đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh của Việt Nam đóng dấu.
+ Đối với người Việt Nam: Bản sao Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân hoặc hộ chiếu; Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú hoặc giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Trường hợp nộp bản chụp thì phải xuất trình bản chính để đối chiếu. Trường hợp không có bản chính để đối chiếu thì nộp bản sao có chứng thực theo quy định của pháp luật).
+ Văn bản ủy quyền trong trường hợp ủy quyền cho người khác làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 (trường hợp người được ủy quyền là cha, mẹ, vợ, chồng, con của người ủy quyền thì không cần văn bản ủy quyền). Văn bản ủy quyền phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật của nước nơi người đó là công dân hoặc thường trú. Trường hợp ủy quyền theo quy định của pháp luật của nước mà người đó là công dân hoặc thường trú thì văn bản ủy quyền phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và dịch ra tiếng Việt.
Cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 không được ủy quyền cho người khác làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
+ Bản sao Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân hoặc hộ chiếu của người được ủy quyền (trong trường hợp ủy quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1).
Hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là Văn bản yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 dành cho cơ quan, tổ chức (Mẫu số 05a/2013/TT-LLTP).
Hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với cho cơ quan tiến hành tố tụng là Văn bản yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 dành cho cơ quan tiến hành tố tụng (Mẫu số 05b/2013/TT-LLTP).
Thời hạn giải quyết: Theo quy định của Điều 48 Luật Lý lịch tư pháp thì thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 47 của Luật này, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này thì thời hạn không quá 15 ngày. Trường hợp khẩn cấp phục vụ hoạt động tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật thì thời hạn không quá 24 giờ, kể từ thời điểm nhận được yêu cầu.
Phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp: Theo quy định của Thông tư số 224/2016/TT-BTC ngày 11/11/ 2016 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải nộp phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp như sau: Phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp: 200.000đồng/lần/người. Phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp của sinh viên, người có công với cách mạng, thân nhân liệt sỹ (gồm cha đẻ, mẹ đẻ, vợ (hoặc chồng), con (con đẻ, con nuôi), người có công nuôi dưỡng liệt sỹ): 100.000đồng/lần/người. Các trường hợp miễn phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp gồm: Trẻ em theo quy định tại Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; người cao tuổi theo quy định tại Luật người cao tuổi; người khuyết tật theo quy định tại Luật người khuyết tật; người thuộc hộ nghèo theo quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020; người cư trú tại các xã đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp đề nghị cấp trên 2 Phiếu trong một lần yêu cầu, thì kể từ phiếu thứ 3 trở đi cơ quan cấp phiếu lý lịch tư pháp thu thêm 5.000đ/phiếu, để bù đắp chi phí cần thiết cho việc in mẫu Phiếu lý lịch tư pháp.
Cơ quan, tổ chức yêu cầu Cấp phiếu lý lịch tư pháp không mất phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp.
Kết quả thực hiện: Theo Điều 41 Luật Lý lịch tư pháp thì Phiếu lý lịch tư pháp số 1 cấp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 7 của Luật Lý lịch tư pháp. Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật và cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình.
 
II. Một số bất cập, hạn chế về quy định thủ tục Cấp phiếu lý lịch tư pháp và đề xuất, kiến nghị sửa đổi
1. Về thủ tục Cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho cá nhân (công dân Việt Nam, người nước ngoài đã và đang cư trú tại Việt Nam)
Thứ nhất, cần bổ sung quy định về thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho cá nhân dưới 14 tuổi
Theo quy định của Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp, đối tượng yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam, người nước ngoài đã và đang cư trú tại Việt Nam mà không giới hạn độ tuổi để được yêu cầu cấp Phiếu. Bộ luật hình sự Việt Nam quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là đủ 14 tuổi, theo đó những người dưới 14 tuổi không thể có án tích. Tuy nhiên, nhu cầu yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người dưới 14 tuổi vẫn diễn ra (đặc biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài). Do vậy, thực tiễn triển khai thi hành Luật có một số trường hợp người dưới 14 tuổi yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp nên gặp khó khăn, lúng túng. Vì vậy cần bổ sung quy định về thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp của đối tượng này theo hướng quy định quyền của người yêu cầu là cá nhân hoặc người đại diện theo pháp luật của cá nhân, bổ sung quyền lựa chọn thành phần hồ sơ mà cá nhân dưới 14 tuổi phải nộp là bản sao giấy khai sinh và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục (03 ngày) bởi vì người dưới 14 tuổi đương nhiên không có án tích theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam. Theo đó, kiến nghị sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 45, khoản 1 Điều 48 Luật Lý lịch tư pháp.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung một số quy định về hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với người nước đã cư trú tại Việt Nam
- Bổ sung quyền lựa chọn nộp giấy tờ thay thế Giấy xác nhận tạm trú trong hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam:
Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật, một trong những thành phần không thể thiếu trong hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Đây là cơ sở để xác định thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cũng như xác định nơi tra cứu, xác minh thông tin để cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, việc yêu cầu người nước ngoài phải nộp giấy xác nhận tạm trú hoặc sổ đăng ký thường trú, tạm trú đã thực sự gây khó khăn trong những trường hợp người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam từ rất lâu hoặc chỉ cư trú tại Việt Nam trong một khoảng thời gian ngắn (một vài ngày). Trong khi đó, theo quy định tại Điều 31 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam thì đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh có thẩm quyền cấp chứng nhận tạm trú cho người nước ngoài tại Việt Nam thông qua việc đóng dấu vào hộ chiếu hoặc thị thực rời. Do vậy, để tiết kiệm chi phí và giảm bớt khó khăn cho người nước ngoài đã từng cư trú tại Việt Nam, cần thiết bổ sung quy định về quyền được lựa chọn nộp hộ chiếu hoặc thị thực rời có thể hiện nội dung chứng nhận tạm trú do đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh thay thế Giấy xác nhận tam trú trong hồ sơ yêu cầu Cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Theo đó, kiến nghị sửa đổi khoản 1 Điều 45 Luật Lý lịch tư pháp.
- Bổ sung quy định nộp giấy tờ chứng minh nhân thân của người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là người không quốc tịch:
Theo quy định tại Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp thì chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu là giấy tờ bắt buộc phải có trong hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu và đây là giấy tờ nhằm chứng minh nhân thân của người yêu cầu cấp Phiếu. Tuy nhiên, đối với người không quốc tịch thì họ không thể có các loại giấy tờ này, mà trên thực tế những trường hợp này cũng cần có Phiếu lý lịch tư pháp để thực hiện một số giao dịch như xin nhập quốc tịch Việt Nam. Theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam thì ngoài hộ chiếu còn có giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu là giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế (là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của một nước cấp cho người không quốc tịch đang cư trú tại nước đó và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận). Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 20 được sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 97/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung của Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam thì Giấy tờ có giá trị đi lại là một giấy tờ có giá trị chứng minh nhân thân của người không quốc tịch. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho người không quốc tịch yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì cần thiết bổ sung quy định người không có quốc tịch yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thể sử dụng “giấy tờ đi lại có giá trị quốc tế” thay vì chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu. Theo đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 45 Luật Lý lịch tư pháp.
- Bổ sung lựa chọn nộp bản sao thẻ căn cước công dân bên cạnh nộp bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu trong hồ sơ yêu cầu Cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với công dân Việt Nam:
Theo Luật Căn cước công dân năm 2014 quy định “Thẻ Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam” do đó việc quy định lựa chọn nộp bản sao thẻ căn cước công dân bên cạnh nộp bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu trong hồ sơ yêu cầu Cấp Phiếu lý lịch tư pháp là phù hợp với Luật Căn cước công dân năm 2014. Theo đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 45 Luật Lý lịch tư pháp.
- Bổ sung quy định về giấy tờ chứng minh nhân thân của người được ủy quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp:
Theo Điều 45 Luật Lý lịch tư pháp chỉ quy định cá nhân có thể uỷ quyền cho người khác làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1. Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản theo quy định của pháp luật; trường hợp người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là cha, mẹ, vợ, chồng, con của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì không cần văn bản ủy quyền, nhưng không quy định khi yêu cầu cấp Phiếu người được ủy quyền có phải xuất trình hay nộp giấy tờ chứng minh nhân thân. Việc không quy định cụ thể đã dẫn đến việc thực hiện không thống nhất tại các địa phương. Vì vậy, để thuận tiện trong việc triển khai thực hiện và đảm bảo về tư cách của người được ủy quyền, đảm bảo thông tin cá nhân, thì nội dung này cần thiết phải được quy định trong văn bản quy pháp pháp luật. Theo đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 19 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10 tháng 5 năm 2012 hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp.
- Bổ sung quy định rõ thành phần hồ sơ đối với trường hợp yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thuộc đối tượng được miễn, giảm lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp:
Theo quy định của Thông tư số 224/2016/TT-BTC ngày 11/11/ 2016 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp, các đối tượng sau được giảm phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp là sinh viên, người có công với cách mạng, thân nhân liệt sỹ (gồm cha đẻ, mẹ đẻ, vợ (hoặc chồng), con (con đẻ, con nuôi), người có công nuôi dưỡng liệt sỹ); các đối tượng sau được miễn phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp là trẻ em theo quy định tại Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; người cao tuổi theo quy định tại Luật người cao tuổi; người khuyết tật theo quy định tại Luật người khuyết tật; người thuộc hộ nghèo theo quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020; người cư trú tại các xã đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định về giấy tờ chứng minh cho trường hợp được miễn, giảm phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp nêu trên. Dẫn đó sự chưa thống nhất, bất tiện trong quá trình thực hiện thủ tục. Theo đó, kiến nghị bổ sung một điều tại Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp hướng dẫn rõ về các loại giấy tờ cần phải nộp hoặc xuất trình khi thuộc các trường hợp miễn, giảm phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để thống nhất, thuận tiện cho cá nhân thực hiện thủ tục.
Thứ ba, sửa đổi quy định về thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp quy định Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho Công dân Việt Nam mà không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú và người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam. Sở Tư pháp thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở trong nước, công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam. Việc quy định thẩm quyền nêu trên là phù hợp tại thời điểm năm 2009. Tuy nhiên, hiện nay Trung tâm Lý lịch tư pháp Quốc gia đang phối hợp chặt chẽ với Cục Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát, Bộ Công an (C53) để tra cứu, xác minh thông tin để cấp Phiếu Lý lịch tư pháp (đã có Quy chế phối hợp số 02/QCPH-TTLLTPQG-C53 ngày 29/6/2018). Theo quy định, hệ thống tàng thư căn cước, căn phạm được quản lý tại C53 có đầy đủ dữ liệu về căn cước, căn phạm của toàn quốc và Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được quản lý tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia cũng tích hợp đầy đủ dữ liệu lý lịch tư pháp của toàn quốc. Do vậy, để xác nhận tình trạng án tích của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì chỉ cần tra cứu, xác minh thông tin tại C53 và Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia cũng đã đủ. Từ thực tế đó, cần nghiên cứu quy định mở rộng thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia. Theo đó, cá nhân có quyền lựa chọn yêu cầu Sở Tư pháp hoặc Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia cấp Phiếu. Việc mở rộng thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp của Trung tâm cũng tạo điều kiện thuận lợi cho những cá nhân có hộ khẩu thường trú, người nước ngoài thường trú, tạm trú tại địa phương nhưng vì lý do nào đó không cư trú tại địa phương. Theo đó, kiến nghị sửa đổi Điều 44, 45, 46 Luật Lý lịch tư pháp.
Thứ tư, sửa đổi Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Mẫu số 03/2013/TT-LLT; Mẫu số 04/2013/TT-LLTP) sử dụng ngôn ngữ duy nhất là Tiếng Việt. Để giảm bớt khó khăn cho người nước ngoài có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và giảm thời gian điền biểu mẫu thì cần thiết thể hiện Tờ khai song ngữ (Tiếng Việt và Tiếng Anh). Đồng thời, bổ sung nội dung yêu cầu nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua hình thức trực tiếp hoặc bưu chính để phù hợp với lựa chọn cách thức thực hiện thủ tục. Theo đó, kiến nghị sửa Tờ khai yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp (Mẫu số 03/2013/TT-LLT; Mẫu số 04/2013/TT-LLTP) ban hành kèm theo Thông tư số 16/2013/TT-BTP ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP ngày 26 tháng 7 năm 2011 về việc ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp.
Thứ năm, sửa đổi cách thức thực hiện thủ tục Cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Theo Luật Lý lịch tư pháp thì cá nhân chỉ được nộp hồ sơ và nhận kết quả thủ tục Cấp Phiếu lý lịch tư pháp với hình thức trực tiếp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngày 08/01/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 19/QĐ-TTg về Phê duyệt "Đề án thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến". Việc thực hiện Đề án đã giúp cá nhân, tổ chức thuận tiện, giảm chi phí khi thực hiện thủ tục và được xã hội đón nhận tích cực và đánh giá cao. Tuy nhiên, theo Quyết định 19/QĐ-TTg, Đề án đã kết thúc mà chưa có văn bản QPPL quy định rõ về nội dung này. Theo đó, cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành  theo hướng đa dạng hóa phương thức nhận hồ sơ và trả kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp, nhằm giảm bớt chi phí đi lại cho người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, đặc biệt là những trường hợp đang học tập, làm việc, cư trú tại nước ngoài hoặc cư trú tại những địa bàn xa cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
2. Về thủ tục Cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho cơ quan, tổ chức (cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; cơ quan tiến hành tố tụng)
Kiến nghị bổ sung quy định về cách thức nộp hồ sơ và nhận kết quả tại Điều 45 Luật Lý lịch tư pháp hoặc sửa đổi khoản 2 Điều 19 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10 tháng 5 năm 2012 hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp theo hướng ngoài phương thức yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp như hiện nay, cơ quan, tổ chức có thể gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, nhằm tạo thuận tiện, giảm thời gian và chi phí cho cơ quan, tổ chức khi thực hiện thủ tục hành chính.
3. Quy định về cấp Phiếu lý lịc tư pháp đối với pháp nhân thương mại
BLHS 2015 đã bổ sung thêm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại và quy định cụ thể vấn đề này tại Chương XI với 17 Điều Luật. Theo đó, cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân được dựa trên dấu hiệu hành vi của cá nhân như: Việc thực hiện hành vi phạm tội mang danh nghĩa của pháp nhân, mang lại lợi ích cho pháp nhân, thực hiện theo sự chỉ đạo hay chấp thuận của pháp nhân…Bên cạnh đó, BLHS 2015 cũng quy định các biện pháp chế tài cụ thể để áp dụng cho pháp nhân, đồng thời còn quy định chặt chẽ về việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Tuy nhiên, chỉ có pháp nhân thương mại đã thực hiện tội phạm theo quy định tại Điều 76 của BLHS mới phải chịu trách nhiệm hình sự về 31 tội danh, trong đó có 22 tội thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và 09 tội thuộc nhóm các tội phạm về môi trường.
Điều này đặt ra vấn đề lý lịch tư pháp đối với pháp nhân thương mai, trong khi Luật lý lịch tư pháp chưa có quy định về vấn đề này. Do đó kiến nghị bổ sung quy định về cấp phiếu lý lịch tư pháp đối với pháp nhân thương mại để phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự năm 2015.
Như vây, ngày nay, sự phát triển của nền kinh tế thị trường làm cho các quan hệ xã hội ngày càng phong phú, đa dạng, cũng từ đó, nhu cầu xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân ngày càng tăng. Việc xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp được coi là biện pháp tối ưu để cá nhân chứng minh đạo đức của mình khi tham gia vào các quan hệ xã hội, đồng thời, đây cũng là biện pháp ưu việt nhất giúp cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác quản lý nhân sự, đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã, hoạt động tố tụng hình sự và thống kê tư pháp hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn 10 năm thực hiện Luật Lý lịch tư pháp cho thấy quy định về thủ tục Cấp Phiếu lý lịch tư pháp phát sinh không ít vướng mắc, bất cập như đã nêu ở trên. Do đó, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm giúp các cá nhân thực hiện tốt quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời góp phần phục vụ nhu cầu quản lý hành chính trong các lĩnh vực khác nhau, hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
                                         Nguyễn Trà My, Vụ VĐCXDPL