Điều 113 Hiến pháp năm 2013 quy định Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND.
Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, HĐND cấp tỉnh có chức năng, nhiệm vụ như sau: (1) Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn tỉnh; (2) Xây dựng chính quyền; (3) Quyết định các chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực: kinh tế, tài nguyên, môi trường giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, thực hiện chính sách xã hội, công tác dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; (4) Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và văn bản của Hội đồng nhân dân cấp huyện; (5) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, HĐND cấp tỉnh cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức do luật định; trong đó có chứa quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung và được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi địa phương, được nhà nước đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương. Theo khoản 9 Điều 4 và Điều 27 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), nghị quyết của HĐND cấp tỉnh ban hành để quy định: (1) Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; (2) Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; (3) Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; (4) Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Như vậy, nghị quyết của HĐND cấp tỉnh là văn bản pháp lý quan trọng của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, ban hành các chính sách, biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Trong thời gian qua, hầu hết các nghị quyết của HĐND cấp tỉnh được ban hành đúng trình tự, thủ tục quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020), bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp; phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán của địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh ở địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có một số nghị quyết ban hành không đúng thẩm quyền hoặc có một số quy định chưa phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc có sai sót về kỹ thuật trình bày hoặc nội dung còn chung chung, thiếu cụ thể, gây khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện.
Để nâng cao chất lượng ban hành nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, làm tốt công tác xây dựng, phê duyệt chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh: việc xây dựng, thông qua đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh phải bảo đảm thực hiện đúng quy định từ Điều 111 đến Điều 118 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020). Đề nghị xây dựng nghị quyết được chấp thuận phải làm rõ mục đích của việc ban hành nghị quyết, đó có phải là vấn đề thực sự cần thiết, cấp bách, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống, công tác quản lý xã hội; mức độ tác động đến các đối tượng, các nguồn lực, khả năng của địa phương…để bảo đảm nghị quyết được thực thi hiệu quả trong cuộc sống.
Hai là, nâng cao chất lượng soạn thảo dự thảo nghị quyết: cơ quan chủ trì soạn thảo cần tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng; thu thập thông tin; tổ chức lấy ý kiến các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết; mục tiêu đề ra phải sát thực tế và có tính khả thi cao; phù hợp với khả năng ngân sách của địa phương. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy phải chú trọng làm tốt việc khảo sát, tham vấn ý kiến nhân dân, đối tượng chịu sự tác động của chính sách thì nghị quyết khi ban hành mới phù hợp với thực tiễn. Ưu tiên, tập trung thời gian, nguồn lực về biên chế, kinh phí cho công tác này; đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại, đáp ứng các yêu cầu công việc đặt ra.
Ba là, tăng cường phối hợp tốt với UBND và các cơ quan liên quan trong xây dựng dự thảo nghị quyết trình HĐND tỉnh. Thường trực HĐND phân công các Ban HĐND chủ động vào cuộc, phối hợp ngay từ đầu với các cơ quan chuyên môn của UBND trong việc chuẩn bị nội dung cụ thể liên quan đến dự thảo nghị quyết cho kỳ họp; chủ động tham dự các cuộc họp, hội thảo do các ngành và UBND tổ chức để nắm bắt thông tin, tham gia góp ý kiến ngay từ khâu soạn thảo, dự thảo nghị quyết. Phối hợp chặt chẽ với UBND tỉnh trong suốt quá trình chuẩn bị cho kỳ họp; trước khi khai mạc kỳ họp từ 7-10 ngày, Thường trực HĐND và UBND nên tổ chức họp để rà soát lại toàn bộ dự thảo nghị quyết chuẩn bị cho kỳ họp, thông tin về những vấn đề cần quan tâm qua thẩm tra của các Ban. Đối với những nội dung chuẩn bị chưa chu đáo, quan điểm chưa thống nhất, còn nhiều ý kiến băn khoăn cần đưa ra bàn bạc và thống nhất hướng xử lý những vấn đề có thể phát sinh trong thảo luận tại kỳ họp.
Bốn là, nâng cao chất lượng thẩm định dự thảo nghị quyết của Sở Tư pháp: thẩm định là khâu rất quan trọng, được coi là giai đoạn “tiền kiểm”, nhằm giúp cho HĐND tỉnh có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về nội dung, hình thức của dự thảo nghị quyết trước khi ký ban hành. Để công tác thẩm định đạt hiệu quả, Sở Tư pháp cần đặc biệt chú trọng tăng cường phối hợp cơ quan chủ trì soạn thảo nghị quyết; chủ động tham gia ý kiến đối với dự thảo nghị quyết trước khi các cơ quan soạn thảo gửi thẩm định, bởi thông qua góp ý dự thảo, Sở Tư pháp sẽ góp ý về trình tự, thủ tục xây dựng văn bản, cơ sở pháp lý ban hành văn bản, thể thức kỹ thuật trình bày bảo đảm theo quy định giúp cơ quan soạn thảo xây dựng văn bản phù hợp với quy định pháp luật. Ngoài ra, Sở Tư pháp cần cập nhật thông tin qua nhiều kênh thông tin các tài liệu về tình hình kinh tế - xã hội của địa phương để phục vụ cho công tác thẩm định văn bản. Đối với những dự thảo nghị quyết có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành và lĩnh vực hoặc có tính chất chuyên môn cao, Sở Tư pháp họp tư vấn trao đổi, tham vấn ý kiến của các cơ quan, đơn vị có liên quan đến báo cáo thẩm định không chỉ phù hợp theo pháp luật, mà còn mang tính tư vấn, định hướng dự thảo được hoàn thiện.
Năm là, nâng cao chất lượng các báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND: hoạt động thẩm tra của các Ban HĐND đóng vai trò quan trọng trong việc thông qua nghị quyết của HĐND. Thực tế đòi hỏi hoạt động thẩm tra của các Ban phải được chú trọng, nhằm phát hiện những vấn đề chưa phù hợp, giúp đại biểu tập trung thảo luận và quyết định đúng. Để làm được điều này đòi hỏi các Ban HĐND phải chủ động tham gia ngay từ đầu với các sở, ngành trong quá trình chuẩn bị xây dựng dự thảo nghị quyết; tổ chức hội thảo, làm việc với các cơ quan liên quan, tham vấn ý kiến của chuyên gia, các đối tượng chịu sự điều chỉnh và cử tri đối với những vấn đề quan trọng. Báo cáo thẩm tra tập trung phân tích, phản biện và nêu rõ chính kiến của các Ban HĐND. Đối với những vấn đề chưa rõ ràng, chưa đủ cơ sở pháp lý, các Ban phải kiên quyết đề nghị không đưa vào chương trình kỳ họp để chuẩn bị kỹ, trình vào kỳ họp sau nhằm đảm bảo tính khả thi của nghị quyết. Các báo cáo thẩm tra phải thực sự là cơ sở tin cậy để các đại biểu HĐND thảo luận và quyết định.
Sáu là, nâng cao vai trò của đại biểu HĐND trong quyết định tại kỳ họp: vai trò của đại biểu HĐND có ý nghĩa quan trọng trong việc thảo luận và quyết định thông qua nghị quyết tại các kỳ họp của HĐND. Thực tế cho thấy, để nâng cao chất lượng nghị quyết HĐND thì vấn đề cốt lõi là nâng cao trình độ và bản lĩnh của đại biểu. Chỉ khi đại biểu HĐND hiểu chính xác, nắm rõ vấn đề và tự tin thảo luận, nêu rõ quan điểm của mình thì HĐND mới có được những quyết định đúng và nghị quyết được thông qua có hiệu lực, hiệu quả cao. Để đại biểu HĐND hiểu và nắm rõ nội dung dự thảo nghị quyết thì các cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo cần cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, tạo thuận lợi cho đại biểu nghiên cứu, quyết nghị.
Như vậy, hoạt động ban hành nghị quyết của HĐND cấp tỉnh là hết sức quan trọng và cần thiết. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới, trên cơ sở điều kiện cụ thể của từng địa phương, đòi hỏi HĐND cấp tỉnh phải không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động ban hành nghị quyết, đảm bảo nghị quyết có tính khả thi, đi vào thực tế cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Nguyễn Trà My