Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật là kim chỉ nam cho hoạt động xây dựng nhà nước và pháp luật Việt Nam hiện nay.
1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh được định nghĩa như sau:
"Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người".
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
Trong suốt toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, Nhân dân là phạm trù xuyên suốt và nổi bật, thể hiện rõ quan điểm về Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
- Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước kiểu mới là nhà nước dân chủ nhân dân, do nhân dân lao động làm chủ và là chủ.
Xây dựng một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là tư tưởng nhất quán trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Trong bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước ta đã khẳng định:
“Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân”.
"Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân"[1].
Nhà nước dân chủ nhân dân do nhân dân trực tiếp tổ chức, xây dựng thông qua tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu. Hồ Chí Minh nhận thức tổng tuyển cử là một quyền chính trị mà nhân dân giành được qua đấu tranh cách mạng, hình thức dân chủ, thể hiện năng lực thực hành dân chủ của nhân dân.
"Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gách vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử...Do tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là chính phủ của toàn dân"[2]. Thông qua việc bầu Quốc hội và Chính phủ, nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng hình thức dân chủ trực tiếp và đại diện.
- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong Nhà nước dân chủ, nhân dân phải có quyền kiểm tra, giám sát, có quyền quyết định tối cao các vấn đề quan trọng của đất nước.
Hồ Chí Minh cho rằng, quyền lực tối cao của Nhân dân không chỉ thể hiện ở việc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp mà còn ở quyền bãi miễn, kiểm soát, giám sát hoạt động của các đại biểu. Cơ chế này nhằm làm cho Quốc hội được trong sạch, giữ được phẩm chất, năng lực hoạt động. Hồ Chí Minh nêu rõ:
"Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân".
[3]
Bên cạnh đó, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước. Hồ Chí Minh viết
"Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là phụng sự cho lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân".[4]
- Theo Hồ Chí Minh, nhà nước phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Cán bộ là đầy tớ của dân. Hồ Chí Minh cho rằng
"Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh [5].
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về bộ máy nhà nước
Hồ Chí Minh cực kỳ coi trọng cơ quan đại diện nhân dân. Trong đó, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, còn Chính phủ có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng. Hồ Chí Minh quan niệm bộ máy nhà nước là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận gắn chặt, liên kết, ràng buộc và thúc đẩy lẫn nhau, nhưng mỗi bộ phận lại có một vị trí riêng, có tính độc lập tương đối.
Theo Hồ Chí Minh thì khi xây dựng bộ máy nhà nước phải đảm bảo các nguyên tắc đó là: (i) Xây dựng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước; (ii) Xây dựng một Chính phủ mạnh, hoạt động có hiệu quả. Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất của Nhà nước, hoạt động trên cơ sở hiến pháp, pháp luật, là trung tâm đầu não điều chỉnh mọi hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước; (iii) Xây dựng một nền hành chính hiện đại từ trung ương đến địa phương và cơ sở. Hồ Chí Minh rất chú ý đến mối quan hệ giữa chính quyền các cấp và hiệu quả hoạt động của nhà nước.
- Đặc biệt, Hồ Chí Minh rất coi trọng chính quyền địa phương. Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã quan tâm tới việc xây dựng chính quyền các cấp, đặc biệt là chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương (bao gồm cấp xã, huyện, tỉnh) là những cấp trực tiếp với nhân dân; là nơi thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Người coi chính quyền cấp cơ sở là
"cấp gần gũi nhân dân nhất, nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi"[6].
- Về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cần phải tuân thủ theo một số nguyên tắc sau: nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc pháp chế.
- Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng đến việc thành lập cơ quan tư pháp, đặc biệt là Tòa án.
- Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác cán bộ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất, bản lĩnh và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức cũng là nhân tố quan trọng tạo nên chất lượng tổ chức bộ máy nói chung và ở địa phương cơ sở nói riêng. Người cho rằng, cần phải tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở cả về năng lực và phẩm chất, cần "kiện toàn tổ chức và lề lối làm việc; nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật và đạo đức cách mạng của toàn thể cán bộ và đảng viên"...
- Hồ Chí Minh coi trọng việc sử dụng pháp quyền để giới hạn quyền lực nhà nước
"Phải có chế độ thần linh pháp quyền". Bên cạnh đó, theo Hồ Chí Minh, trong bộ máy nhà nước phải có sự phân công, phân nhiệm, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan có quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật
- Hồ Chí Minh quan tâm rất sớm đến vai trò của pháp luật trong điều hành và quản lý xã hội. Năm 1919, trong Tám yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Véc xây thì có 4 điểm liên quan đến vấn đề pháp quyền. Còn lại là liên quan đến công lý và quyền con người. Sau này, trong bản yêu sách của nhân dân An Nam được Nguyễn Ái Quốc chuyển thành Việt Nam yêu cầu ca, trong đó Người viết
"Bảy xin hiến pháp ban hành. Trăm điều phải có thần linh pháp quyền". Đây là tư tưởng đặc sắc của Hồ Chí Minh trong việc đề cao pháp luật trong quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời đây cũng là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động quản lý của Người.
- Hồ Chí Minh là người đầu tiên đã xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa pháp luật và đạo đức. Pháp luật là "đạo đức tối thiểu", còn đạo đức là "pháp luật tối đa". Một hệ thống pháp luật hoàn thiện cần được xây dựng trên nền tảng đạo đức cụ thể, ngược lại, pháp luật chính là công cụ, biện pháp để xã hội thực hành các chuẩn mực đạo đức. Đạo đức là cơ sở ban đầu, phương tiện hữu hiệu để pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh.
- Hồ Chí Minh rất chú trọng tính dân chủ trong quá trình xây dựng pháp luật. Theo Người, muốn có được hệ thống pháp luật tốt thì phải có sự tham gia của Nhân dân trong quá trình xây dựng pháp luật và đây là điều kiện tiên quyết. Hồ Chí Minh nhận định "
phải nhận thức cho tốt và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật"; "sự bình đẳng trong xã hội ở nơi pháp luật" và "dân chủ đúng đắn cũng ở nơi pháp luật"[7]. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng pháp luật phải hướng tới mục tiêu dân chủ, tiến bộ để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật.
- Hồ Chí Minh rất coi trọng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và tính tích cực công dân, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của Nhà nước. Trong tư tưởng của Người luôn khuyến khích người dân sử dụng pháp luật trong hoạt động đời sống xã hội thường ngày. Người cho rằng người thực thi pháp luật phải làm gương, nghiêm minh và công tâm. Bên cạnh đó, Người còn rất coi trọng công tác phòng ngừa xử lý vi phạm pháp luật. Trong việc xử lý vi phạm, Người luôn tôn trọng cái "lý" và đề cao cái "tình", kiên quyết xử lý mọi vi phạm pháp luật.
4. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật trong xây dựng, hoàn thiện nhà nước và pháp luật ở Việt Nam hiện nay
4.1. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, hoàn thiện nhà nước
Một là: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Quan điểm về quyền làm chủ đất nước và xã hội của nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đề cập hết sức đầy đủ, sâu sắc và được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 của nước ta quy định
"1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp". Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ đất nước và xã hội của nhân dân được Đảng ta đúc kết thành cơ chế, chính sách, điều hành đất nước đó là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ.
- Nhà nước pháp quyền mà Đảng ta xây dựng là nhà nước tôn trọng pháp luật, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng đã khẳng định
"Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị". [8]
Để hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, Nghị quyết Đại hội XIII cũng chỉ rõ nhiệm vụ phải
"Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân". Đồng thời xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh; cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là sự gương mẫu tuân theo pháp luật, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên
[9].
Đại hội XIII của Đảng đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về điểm cốt lõi của nhà nước pháp quyền, đó là xác định nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đi đôi với tăng cường, mở rộng quyền làm chủ của nhân dân. Bởi pháp luật càng hoàn thiện thì quyền làm chủ thật sự của nhân dân đối với đất nước mới được đảm bảo. Nhân dân được bảo đảm vai trò làm chủ sẽ có điều kiện phát huy sáng kiến đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước
Nhà nước ta đã chú trọng nghiên cứu, thể chế hóa đầy đủ nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước, phân định phạm vi, trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, bảo đảm phù hợp với thực tiễn tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta. Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ
"Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp". Hiến pháp năm 2013 quy định: Quốc hội thực hiện quyền lập pháp (Điều 69), Chính phủ thực hiện quyền hành pháp (Điều 94), Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp (khoản 1 Điều 102), Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp (khoản 1 Điều 107).
Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ sự phân công quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước; xác định rõ hơn chức năng của từng cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Hiến pháp năm 2013 thể hiện rõ sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực thi quản lý nhà nước, tránh sự chồng chéo khi thực thi các chức năng, nhiệm vụ.
Về cơ chế phối hợp trong việc thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp. Đối với quyền lập hiến, Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội là cơ quan làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, dựa trên ý kiến của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội. Đối với quyền lập pháp, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận các chủ thể có quyền trình các dự án luật như sau: “Chủ tịch nước, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội. Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật trước Quốc hội”.
Về cơ chế phối hợp trong việc thực hiện quyền hành pháp, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp; có quyền ban hành các chính sách, văn bản độc lập để thực hiện nhiệm vụ của mình.
Hiến pháp năm 2013 (Điều 100) đã khẳng định sự độc lập của Chính phủ trong việc ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý thống nhất các cơ quan trong bộ máy nhà nước của mình. Trong việc thực hiện quyền hành pháp, mối quan hệ phối hợp giữa Quốc hội và Chính phủ còn được thể hiện rõ ở quyền quyết định và hoạch định chính sách. Theo đó, Quốc hội chỉ quyết định những chính sách dài hạn, mang tầm định hướng quốc gia còn Chính phủ sẽ quyết định những chính sách ngắn hạn, mang tính chất điều hành, thể hiện sự phản ứng linh hoạt của Nhà nước với thực tiễn phát triển ở trong nước và quốc tế...
Về cơ chế phối hợp trong việc thực hiện quyền tư pháp: Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử của Tòa án là nguyên tắc xuyên suốt và cao nhất trong tổ chức thực hiện quyền này. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức không được phép can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án. Việc bảo vệ pháp luật, công lý, tự do của công dân là trách nhiệm hàng đầu của quyền tư pháp.
Hiến pháp năm 2013 quy định cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước; quy định chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong việc thực hiện quyền lập pháp. Đồng thời, quy định một chương riêng về hai thiết chế hiến định độc lập, bao gồm: Hội đồng bầu cử Quốc gia và Kiểm toán Nhà nước. Việc ghi nhận hai thiết chế hiến định độc lập này, một lần nữa cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện triệt để nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước.
Về kiểm soát đối với quyền lập pháp, Hiến pháp năm 2013 khẳng định việc lập hiến, lập pháp được thực hiện bởi Quốc hội nhưng phải dựa trên ý kiến của nhân dân, được sự đồng thuận của các đại biểu Quốc hội và ý kiến của Chính phủ, Chủ tịch nước.
Về cơ chế kiểm soát đối với quyền hành pháp: Được thực hiện trước hết từ cơ quan lập pháp. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định Quốc hội có quyền bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm Thủ tướng Chính phủ; có quyền phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng,... Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và thực hiện quyền giám sát hoạt động của Chính phủ, xem xét báo cáo của Chính phủ...
Về kiểm soát quyền tư pháp: Theo Hiến pháp năm 2013, cơ chế kiểm soát từ phía lập pháp đối với quyền tư pháp được thể hiện thông qua việc Quốc hội có quyền bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với các chức danh là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do mình bầu, như Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Cơ chế kiểm soát thứ hai đối với quyền tư pháp là Chủ tịch nước thực hiện quyền kiểm soát tư pháp thông qua việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội...
Theo quy định pháp luật hiện hành ở nước ta, cơ chế kiểm soát theo chiều dọc được thực hiện thông qua hình thức kiểm soát của nhân dân đối với Nhà nước. Theo quy định, nhân dân có quyền kiểm soát trực tiếp các cơ quan nhà nước thông qua việc tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nước; bầu, miễn nhiệm đại biểu Quốc hội, giám sát hoạt động của đại biểu Quốc hội. Thông qua Quốc hội, nhân dân thực hiện quyền lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu, phê chuẩn… Thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp, Nhân dân thực hiện việc giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức.
Ba là: Về sự phân cấp, phân quyền, kiểm soát giữa Trung ương và địa phương
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là một thể thống nhất (dưới tên chung là chính quyền địa phương), có vị trí quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước (Điều 111). Trong mối quan hệ với các cơ quan Trung ương, Hiến pháp 2013 đã quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc về vị ví, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương. Việc quy định này vừa bảo đảm cho chính quyền địa phương chủ động, linh hoạt trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn tại địa phương, vừa giúp các cơ quan Trung ương có điều kiện kiểm soát việc thực thi nhiệm vụ của cơ quan này. Sự kiểm soát từ phía cơ quan lập pháp đối với chính quyền địa phương được thể hiện qua việc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quyền giám sát, hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Bốn là: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chính quyền địa phương
Ngay từ tên gọi của Luật, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã thể hiện sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chính quyền địa phương (năm 1958, Quốc hội cũng đã ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương).
Việc quy định thẩm quyền giữa trung ương, địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương là điểm mới của Luật Tổ chức chính quyền năm 2015 nhằm cụ thể hóa Điều 112 của Hiến pháp năm 2013. Theo đó, để tạo cơ sở pháp lý cho việc phân quyền, phân cấp, ủy quyền cho chính quyền địa phương, luật quy định một số nguyên tắc như: bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược và quy hoạch đối với các ngành, lĩnh vực; bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia (đây là điểm rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chính quyền địa phương); phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn...
Bên cạnh đó, Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính theo hướng chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, giảm dần xuống cấp huyện đến cấp xã để tránh tình trạng dồn việc về cấp cơ sở; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn tập trung thực hiện quản lý theo lãnh thổ; ở địa bàn đô thị chú trọng thực hiện quản lý theo ngành, lĩnh vực.
Bốn là: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và cán bộ, Đảng ta đã luôn quan tâm đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Văn kiện Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Đảng ta đã xác định:
“Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng". Nhìn chung, công tác cán bộ đã bảo đảm nguyên tắc, quy trình, thủ tục trong tất cả các khâu nên cơ bản đã xây dựng được đội ngũ cán bộ tương xứng, ngang tầm, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng.
4.2. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật
Một là: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đề cao vai trò của pháp luật
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển 2011) đã khẳng định, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân là một trong 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa. Theo đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được cụ thể hóa đầy đủ như sau:
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Hai là: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy tính dân chủ trong xây dựng pháp luật
Hoạt động xây dựng pháp luật hiện nay được thực hiện theo quy định của Luật ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), nhìn chung các quy định của Luật đã đảm bảo tính công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng VBQPPL. Đặc biệt với quy trình phải lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản đối với dự án, dự thảo VBQPPL đã góp phần đánh giá được đầy đủ thực tiễn, lắng nghe được ý kiến của Nhân dân, của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự án, dự thảo văn bản VBQPPL, để đảm bảo tính phản biện, khách quan trong quá trình soạn thảo. Ngoài ra, với các quy định chặt chẽ của Luật cũng đã đảm bảo tính khách quan, minh bạch, có kiểm soát, giám sát chặt chẽ của các cơ quan trong quá trình xây dựng, soạn thảo dự án, dự thảo VBQPPL. Luật đã bổ sung và làm rõ hơn quy định về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL. Qua đó đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với các dự án, dự thảo VBQPPL.
Ba là: Về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội ở Việt Nam hiện nay
Pháp luật của nhà nước ta có xu hướng ngày càng ghi nhận nhiều hơn các quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức. Trong Bộ luật Dân sự của nước ta năm 2015 thì yêu cầu tuân thủ pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội là một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự (khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định
"Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng".
Bốn là: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiều biện pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân được tổ chức với nhiều hình thức phong phú và đa dạng. Ngày 20/6/2012, Quốc hội đã ban hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiều quy định mới có tính đột phá, trong đó có quy định ngày 9/11 hàng năm là
“Ngày Pháp luật Việt Nam”, nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người dân. Việc ban hành Luật này đã góp phần bảo đảm sự công khai, minh bạch của các chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp đều có quyền và được tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận thông tin về pháp luật; các hình thức, biện pháp tuyên truyền truyền thống tiếp tục được vận dụng sáng tạo bên cạnh các hình thức tuyên truyền mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật nước ta vẫn còn một số bất cập, cần tiếp tục hoàn thiện như hệ thống pháp luật nước ta chưa thật sự hoàn chỉnh, đồng bộ; hiệu lực và tính khả thi chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Pháp luật trên một số lĩnh vực còn thiếu ổn định, tính dự báo chưa cao, chất lượng chưa bảo đảm; việc sửa đổi, bổ sung còn nhiều. Quy trình xây dựng VBQPPL qua nhiều tầng nấc, làm chậm tiến độ ban hành và tổ chức thực hiện. Công tác tổ chức thi hành pháp luật vẫn là khâu yếu. Tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành còn khá phổ biến; đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật chưa được tăng cường để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; công tác giám sát, kiểm tra văn bản pháp luật chưa thường xuyên; xử lý sai sót, vi phạm thiếu kiên quyết, triệt để; việc tổ chức thi hành pháp luật có lúc, có việc còn lỏng lẻo, tính răn đe, giáo dục chưa cao. Cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa đồng bộ, có lúc còn phân tán, có nơi còn cục bộ. Cơ chế để nhân dân tích cực tham gia vào các hoạt động xây dựng pháp luật và giám sát thi hành pháp luật chưa được phát huy. Một số văn bản còn thể hiện “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm, cục bộ”. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn nặng về tính phong trào, hiệu quả chưa cao; thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu. Công tác cán bộ hiện nay vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận. Công tác tuyển dụng còn nhiều hạn chế; chất lượng một số cán bộ, công chức, viên chức được tuyển dụng chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều nơi xảy ra sai phạm, tiêu cực. Chủ trương thu hút hiền tài thực hiện còn hạn chế. Công tác kiểm tra, giám sát về công tác cán bộ chưa thường xuyên, còn nhiều hạn chế. Đầu tư nguồn lực cho công tác cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ...
Như vậy, có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận để xây dựng và hoàn thiện nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng. Ngày nay, những tư tưởng của Người về nhà nước và pháp luật vẫn tiếp tục được học tập, vận dụng trên con đường xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nhờ sự vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn trong đấu tranh giành chính quyền và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra được đường lối đúng đắn về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân./.
1. Trường Đại học Luật Hà Nội,
Nhà xuất bản Tư pháp năm 2018.
2. Nguyễn Mạnh Tường,
, Nhà xuất bản Tư pháp năm 2018.
3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.
4. Website:
https://dangcongsan.vn/thoi-su/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-nha-nuoc-va-phap-luat-554898.html
https://www.bqllang.gov.vn/chu-tich-ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong-ho-chi-minh/10216-xay-dung-va-hoan-thien-he-thong-phap-luat-theo-tu-tuong-ho-chi-minh.html
https://tcnn.vn/news/detail/48131/Xay-dung-chinh-quyen-dia-phuong-theo-tu-tuong-Ho-Chi-Minh-%E2%80%93-Thuc-tien-va-nhung-van-dat-ra.html
https://www.bqllang.gov.vn/chu-tich-ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong-ho-chi-minh/10972-van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-trong-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia.html