Công tác pháp chế ở Bộ, ngành, địa phương năm 2021 và một số đề xuất, kiến nghị trong năm 2022
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

Công tác pháp chế ở Bộ, ngành, địa phương năm 2021 và một số đề xuất, kiến nghị trong năm 2022

1. Đánh giá kết quả công tác tổ chức, cán bộ pháp chế Bộ, ngành và địa phương năm 2021
1.1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban cán sự Đảng, lãnh đạo Bộ về công tác pháp chế
 Công tác pháp chế tiếp tục được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đã có những bước chuyển biến tích cực. Tại các Hội nghị công tác Tư pháp, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể công tác xây dựng pháp luật và công tác pháp chế nói riêng. Tại các Phiên họp thường kỳ và Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đề cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường đội ngũ người làm công tác pháp chế, bố trí đủ kinh phí cho hoạt động xây dựng VBQPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh công tác phối hợp giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong công tác pháp chế.
 Bên cạnh đó, trong năm 2021, để tổng kết, đánh giá 10 năm thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, ngày 29/3/2021, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 497/BTP-VĐCXDPL về Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, trong đó có việc đánh giá, tổng kết về kiện toàn tổ chức và người làm công tác pháp chế.
1.2. Công tác hoàn thiện thể chế về công tác pháp chế
Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (ban hành kèm theo Quyết định số 497/QĐ-BTP ngày 29/3/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp). Trên cơ sở báo cáo tổng kết của các Bộ, ngành, doanh nghiệp nhà nước và địa phương, Bộ đã tổng hợp, xây dựng dự thảo Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và chuẩn bị các công việc cho việc tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Đồng thời, đã tổ chức rà soát các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức làm công tác pháp chế theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP.
1.3. Về đội ngũ người làm pháp chế ở Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước
Tính đến ngày 01/4/2021, cả nước có 9393 người làm công tác pháp chế  trong đó có 2635 người làm pháp chế chuyên trách, 6758 người làm pháp chế kiêm nhiệm. Trong đó, tại Trung ương, có 4.429 người làm công tác pháp chế, gồm 1417 người chuyên trách, 3012 người kiêm nhiệm. Các địa phương có 55 Phòng Pháp chế được thành lập tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh với 2591 người làm công tác pháp chế, gồm 457 người chuyên trách, 2134 người kiêm nhiệm; doanh nghiệp nhà nước có 2373 người làm công tác pháp chế, gồm 761 người chuyên trách, 1612 người kiêm nhiệm.
1.4. Công tác kiểm tra tình hình thực hiện công tác pháp chế
Công tác kiểm tra, khảo sát của Bộ Tư pháp tại các Bộ, ngành, doanh nghiệp cũng được Bộ quan tâm. Trong năm 2021, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ tổ chức Đoàn kiểm tra, khảo sát về tình hình thực hiện công tác pháp chế, xây dựng pháp luật tại một số Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; kiểm tra, khảo sát về công tác pháp chế tại 2 doanh nghiệp: Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Qua kiểm tra, khảo sát, Bộ đã tổng hợp đề xuất, kiến nghị của Bộ, ngành, doanh nghiệp về nhiều nội dung liên quan đến Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, trong đó có các đề xuất, kiến nghị liên quan đến các quy định của Nghị định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế và người làm công tác pháp chế.
2. Tồn tại, hạn chế trong công tác pháp chế năm 2021 và nguyên nhân
Tồn tại, hạn chế về công tác tổ chức, cán bộ pháp chế Bộ, ngành, địa phương năm 2021 cũng là tồn tại, hạn chế từ nhiều năm nay, trong đó có một số tồn tại, hạn chế như sau:
2.1. Tồn tại, hạn chế
a. Sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo về công tác pháp chế còn chưa thực sự sát sao
- Lãnh đạo của một số bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp chưa có sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc thành lập mới hoặc củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế, bố trí cán bộ thực hiện công tác pháp chế, đặc biệt là một số tổ chức pháp chế của các Sở, ngành thuộc UBND tỉnh và doanh nghiệp nhà nước hoạt động chỉ mang tính hình thức, chưa thực hiện hết các nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức mình theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP.
- Việc phân công lãnh đạo cơ quan, đơn vị phụ trách công tác pháp chế chưa đúng với yêu cầu của Chính phủ đã được quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Ở một số bộ, ngành và địa phương, người đứng đầu không phụ trách công tác pháp chế mà giao cho cấp phó phụ trách công tác này, nhất là ở địa phương (có 22/30 Bộ do Thứ trưởng phụ trách; có 39/63 địa phương giao cho Phó Chủ tịch UBND cấp tỉnh phụ trách công tác pháp chế). Do đó, việc quan tâm, chỉ đạo về công tác pháp chế còn hạn chế.
b. Về việc thành lập và củng cố, kiện toàn các tổ chức pháp chế ở một số địa phương còn hạn chế; mô hình tổ chức ở một số cơ quan chưa thống nhất
- Việc kiện toàn tổ chức pháp chế chưa đáp ứng được yêu cầu của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, ở nhiều địa phương chưa thành lập tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh mà chủ yếu bố trí cán bộ chuyên trách hoặc cán bộ kiêm nhiệm; thậm chí có nơi do không có biên chế hoặc không bố trí được biên chế, có một số Sở, ngành ở một số địa phương đã thành lập Phòng Pháp chế sau đó lại giải thể.
- Mô hình tổ chức pháp chế ở các cơ quan, đơn vị được tổ chức không thống nhất. Mỗi đơn vị tổ chức theo một mô hình riêng, phù hợp với đặc thù của đơn vị mình nên việc phối hợp để triển khai thực hiện công việc giữa các cơ quan, đơn vị với nhau về công tác pháp chế còn gặp nhiều khó khăn  (Một số cơ quan thuộc Chính phủ (Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam) chỉ thành lập Phòng Tổng hợp - Pháp chế trực thuộc Văn phòng, trong khi đó nhiệm vụ của pháp chế lại tương đương với các Ban khác trong cơ quan)...
c. Về việc tuyển dụng, năng lực, trình độ của đội ngũ người làm công tác pháp chế
- Bên cạnh đội ngũ người làm công tác pháp chế ở các bộ, ngành có bề dày hoạt động thì phần lớn đội ngũ cán bộ pháp chế còn trẻ, chưa có kinh nghiệm trong công tác pháp chế.
- Phần lớn người làm công tác pháp chế chỉ được trang bị kiến thức chuyên ngành luật, còn các chuyên ngành khác về kinh tế, tài chính, ngân hàng và các chuyên ngành kỹ thuật phục vụ cho công việc thì còn thiếu, đặc biệt là các kiến thức pháp luật về pháp luật quốc tế. Vì vậy, chất lượng công việc của cán bộ pháp chế nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
 - Một số tổ chức pháp chế và người làm công tác pháp chế còn chưa tự khẳng định được vị trí, vai trò và những khả năng về chuyên môn, nghiệp vụ của mình, chất lượng tham mưu còn mờ nhạt, do đó, chưa được lãnh đạo tin dùng, giao việc.
Bên cạnh đó, thực tế tuyển dụng, sử dụng công chức, người làm công tác pháp chế thời gian qua cho thấy nhiều cơ quan, đơn vị gặp khó khăn trong việc tuyển dụng người làm công tác pháp chế; nhiều cơ quan, đơn vị có tình trạng công chức xin chuyển công tác ra khỏi tổ chức pháp chế. Nguyên nhân của vấn đề này chủ yếu là do áp lực công việc cao, trong khi thu nhập chưa bảo đảm nhu cầu cuộc sống.
d. Về việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao còn hạn chế
- Việc nghiên cứu, đề xuất chính sách đối với một số dự án chưa có khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về tính chiến lược và tầm nhìn dài hạn; trong một số trường hợp khả năng thích ứng của pháp luật trước những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn còn hạn chế; một số bất cập của pháp luật mặc dù đã được phát hiện nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung. Chất lượng một số đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh chưa cao; vẫn còn tình trạng các dự án, dự thảo văn bản sau khi đã đưa vào chương trình nhưng phải xin lùi, rút điều chỉnh. Việc ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh vẫn còn tồn tại, hạn chế, tình trạng nợ ban hành văn bản chưa được khắc phục triệt để.
- Một số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật còn phân tán, dàn trải, nguồn lực hạn chế; nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thật sát và phù hợp với đối tượng, nhu cầu thực tiễn và địa bàn phổ biến. Nhận thức về công tác phổ biến giáo dục pháp luật chưa cao, vẫn còn tư tưởng coi phổ biến, giáo dục pháp luật là công việc riêng của ngành Tư pháp.
- Hoạt động tự kiểm tra văn bản chưa thực sự hiệu quả, ít phát hiện được các sai sót; một số văn bản có dấu hiệu vi phạm pháp luật đã được phát hiện, kết luận nhưng chưa được các bộ, ngành, địa phương xử lý kịp thời. Việc khắc phục hậu quả do thực hiện văn bản trái pháp luật gặp nhiều khó khăn. Chưa có giải pháp để đảm bảo sự đồng bộ, gắn kết công tác kiểm tra văn bản với theo dõi thi hành pháp luật.
- Do yêu cầu tinh gọn tổ chức, bộ máy, tinh giản biên chế, hiện nay, tại nhiều tổ chức pháp chế của bộ, ngành, địa phương, nhiệm vụ pháp chế được ghép với phòng, ban chuyên môn khác để thành lập phòng/ban/Vụ Pháp chế. Theo đó, ngoài chức năng, nhiệm vụ về công tác pháp chế, các đơn vị này còn thực hiện các nhiệm vụ khác như thanh tra, tổng hợp, thi đua khen thưởng, thông tin điện tử. Ở địa phương, đối với một số nhiệm vụ phức tạp, quan trọng, khối lượng công việc lớn như công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi tình hình thi hành pháp luật nhưng không được thành lập thành phòng chuyên môn riêng mà lồng ghép, giao thực hiện kiêm nhiệm trong phòng chuyên môn khác nên đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ này. Trong khi đó, với số biên chế được giao hiện nay còn ít nên chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tại một số Vụ Pháp chế thuộc bộ, số lượng công chức hiện có còn đang thấp hơn so với chỉ tiêu được giao (Vụ Pháp chế Bộ Nội vụ được giao 19 biên chế, nhưng hiện chỉ có 14 công chức; Vụ Pháp chế Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao 19 biên chế, hiện có 17 công chức)...
- Năm 2021, do ảnh hưởng của dịch Covid 19 nên việc triển khai nhiều hoạt động pháp chế gặp khó khăn và không thực hiện được do phải thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid 19.
đ. Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện công tác pháp chế
Việc phối hợp công tác giữa tổ chức pháp chế với một số đơn vị chuyên môn; giữa Vụ Pháp chế với tổ chức pháp chế các đơn vị thuộc bộ, ngành; giữa các doanh nghiệp nhà nước ở Trung ương với bộ chủ quản chưa thực sự gắn kết nên kết quả một số công tác pháp chế chưa đáp ứng yêu cầu. Tại các địa phương, công tác phối hợp giữa các phòng chuyên môn với cán bộ pháp chế tại các Sở, ngành còn chưa hiệu quả. Mặt khác, một số Sở, ngành chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của cán bộ pháp chế tại các cơ quan, chưa có sự quan tâm, đầu tư đúng mức nên công tác phối hợp giữa cán bộ pháp chế với các phòng chuyên môn tại các Sở, ngành vẫn còn nhiều khó khăn …
2.2. Một số nguyên nhân
2.2.1. Nguyên nhân khách quan
 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP được ban hành trong bối cảnh toàn hệ thống chính trị triển khai thực hiện các văn bản, chỉ đạo của Đảng về tinh giản tổ chức, bộ máy, cải cách chính sách tiền lương cho cán bộ, công chức viên chức như: Kết luận số 23/KL-TW ngày 29/5/2012 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020”; Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức… Do vậy, việc triển khai thực hiện một số nội dung liên quan đến tổ chức, bộ máy, biên chế, chế độ chính sách cho người làm công tác pháp chế gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là sự đồng thuận giữa các cơ quan tham mưu, xây dựng chính sách pháp luật.
Đặc biệt, thực hiện chủ trương của Đảng về tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan trong hệ thống chính trị tại Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày Nghị quyết số 18-NQ/TW, hiện nay Chính phủ đã ban hành Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tại Nghị định này, Chính phủ quy định cụ thể về tiêu chí thành lập tổ chức hành chính của Sở (Phòng, Chi cục…), trong đó số lượng biên chế là tiêu chí “cứng” để xem xét việc thành lập các tổ chức này. Do vậy, mặc dù Nghị định số 55/2011/NĐ-CP quy định trách nhiệm của các cơ quan trong việc thành lập tổ chức pháp chế các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, tuy nhiên các cơ quan này gặp khó khăn do không đủ tiêu chí biên chế để thành lập Phòng Pháp chế theo quy định của pháp luật.
2.2.2. Nguyên nhân chủ quan
- Lãnh đạo của một số bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp chưa lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc thành lập mới hoặc củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế, bố trí cán bộ thực hiện công tác pháp chế. Đặc biệt tại một số tổ chức pháp chế của các Sở, ngành thuộc UBND tỉnh và doanh nghiệp nhà nước hoạt động chỉ mang tính hình thức, chưa làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức mình theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP; chưa thực sự coi trọng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác pháp chế, dẫn đến việc thờ ơ trong việc kiện toàn tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác này. Ở một số địa phương, người đứng đầu còn có cách hiểu và nhận thức khác nhau hoặc chưa đầy đủ về công tác pháp chế khi xác định pháp chế chỉ có nhiệm vụ xây dựng pháp luật, do đó, không cần thiết phải thành lập Phòng Pháp chế. Ở một số địa phương khác coi pháp chế là nhiệm vụ mới, cần phải có nguồn biên chế bổ sung thì mới kiện toàn được các Phòng Pháp chế, do đó, không sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức trong tổng số biên chế của địa phương.
- Việc phân công lãnh đạo cơ quan, đơn vị phụ trách công tác pháp chế chưa đúng với yêu cầu của Chính phủ đã được quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Ở một số bộ, ngành và địa phương, người đứng đầu không phụ trách công tác pháp chế mà giao cho cấp phó phụ trách công tác này, nhất là ở địa phương.
- Công tác phối hợp và chủ động nâng cao trình độ năng lực cho người làm công tác pháp chế bộ, ngành còn hạn chế. Để hoàn thiện, chuẩn hóa tiêu chuẩn, năng lực cho người làm công tác pháp chế, Bộ Tư pháp đã xây dựng chương trình đào tạo khung văn bằng 2 chuyên ngành luật cho người làm công tác pháp chế. Mặc dù từ năm 2018, Trường đều đặn thông báo tuyển sinh, tuy nhiên, tính đến tháng 3/2021 mới chỉ tuyển sinh và làm lễ tốt nghiệp cho 01 khóa học. Điều này cho thấy việc chuẩn hóa, nâng cao năng lực, trình độ cho người làm công tác pháp chế chưa có trình độ cử nhân luật chưa thực sự được chính bản thân người làm công tác pháp chế, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước quan tâm. Do đó, chương trình đào tạo cử nhân luật văn bằng hai cho người làm công tác pháp chế triển khai còn chậm.
- Các lớp tập huấn nghiệp vụ nhằm tăng cường năng lực cho người làm công tác pháp chế chưa nhiều, quy mô nhỏ, trong một số trường hợp còn mang tính hình thức; nội dung tập huấn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là yêu cầu về hội nhập; việc bố trí kinh phí cho việc tổ chức các lớp tập huấn còn nhiều khó khăn.
- Công tác tham mưu của đội ngũ pháp chế c̣òn hạn chế, chưa đề xuất được giải pháp mang tính đột phá trong việc kiện toàn tổ chức bộ máy pháp chế; việc nâng cao năng lực cho người làm công tác pháp chế còn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu; chưa xây dựng được các cơ chế phối hợp với các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp trong việc giúp tổ chức pháp chế và người làm công tác pháp chế trong các cơ quan, tổ chức này triển khai và thực hiện có hiệu quả công tác pháp chế.
  - Một số tổ chức pháp chế và người làm công tác pháp chế chưa tự khẳng định được vị trí, vai trò và khả năng về chuyên môn, nghiệp vụ.
3. Một số nhiệm vụ và giải pháp về công tác pháp chế năm 2022
Trong năm 2022, công tác pháp chế cần tập trung vào một số nhiệm vụ và giải pháp sau:
3.1. Nhiệm vụ cụ thể
- Tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2020 của về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật và Kết luận số 83-KL/TW ngày 29 tháng 7 năm 2020 của Bộ Chính trị về việc tổng kết thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 04/QĐ-TTg ngày 07 tháng 01 năm 2021, Kết luận số 19-KL/TW ngày 14 tháng 10 năm 2021 của Bộ Chính trị về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.
- Tiếp tục tổ chức rà soát, tổng kết tình hình thực hiện và đề xuất hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, đội ngũ người làm công tác pháp chế quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành.
3.2. Giải pháp
- Nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP với nhiều nội dung quan trọng như: tổ chức bộ máy pháp chế ở địa phương, chức năng, nhiệm vụ pháp chế, có chế độ hỗ trợ cho người làm công tác pháp chế...để thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ về tổ chức và nhân lực làm công tác pháp chế.
- Hoàn thiện văn bản QPPL pháp luật về vị trí việc làm người làm công tác pháp chế.
- Cần nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo về vị trí, vai trò của công tác pháp chế để từ đó dành sự quan tâm, tạo điều kiện cho công tác này trong đó có việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác pháp chế.
- Tiếp tục tổ chức đào tạo các lớp văn bằng 2 chuyên ngành luật cho đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Đối với đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho người đã làm công tác pháp chế: Xây dựng các Bộ tài liệu hướng dẫn; tập trung đào tạo các kỹ năng mềm cho người làm công tác pháp chế; triển khai việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ công tác pháp chế cho các bộ, ngành, địa phương tại Học viện Tư pháp.../.
                                                                   Vụ Các vấn đề chung về XDPL