Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) là bộ công cụ đánh giá xếp hạng năng lực đổi mới sáng tạo của các quốc gia và các nền kinh tế. Phương pháp đánh giá được hoàn thiện qua các năm và là hệ quy chiếu toàn diện để đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo của các quốc gia và các nền kinh tế hiện nay, bao gồm nhiều nhóm chỉ số và tiểu chỉ số, trong đó có Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật. Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật là chỉ số quan trọng thuộc nhóm chính sách vĩ mô, được xác định là một trong các yếu tố đầu vào của đổi mới sáng tạo, có ý nghĩa lớn đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và luôn là chỉ số được đánh giá cần đặc biệt lưu ý để cải thiện, góp phần nâng hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm đến Chỉ số này. Tại Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP và các nghị quyết của Chính phủ năm 2018, 2019, 2020, 2021 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Bộ Tư pháp được Chính phủ giao “
Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương cải thiện chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật thuộc bộ chỉ số Đổi mới sáng tạo (GII)”. Trong năm 2021, việc triển khai thực hiện Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật đã đạt được nhiều kết quả tích cực, cụ thể như sau:
Về công tác chỉ đạo, điều hành
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục tập trung chỉ đạo công tác xây dựng luật, pháp lệnh và hoàn thiện thể chế, pháp luật gắn với việc soạn thảo, trình các dự án thuộc Chương trình năm 2021; việc lập Chương trình năm 2022, điều chỉnh Chương trình năm 2021 và ban hành văn bản quy định chi tiết. Chính phủ ban hành 05 nghị quyết, Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 quyết định để chỉ đạo, phân công các bộ, ngành, địa phương lập đề nghị xây dựng, soạn thảo luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết bảo đảm chất lượng, tiến độ; đề cao kỷ luật hành chính, thường xuyên kiểm tra, kiểm điểm về tình trạng chậm tiến độ và không bảo đảm chất lượng văn bản. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ tích cực đôn đốc các bộ trong việc lập đề nghị xây dựng, soạn thảo các luật, pháp lệnh thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết, công tác rà soát, kiểm tra, xử lý văn bản QPPL; đồng thời tổ chức các buổi làm việc trực tiếp với các bộ, cơ quan để kiểm tra, đôn đốc tình hình triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh và xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết.
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (Công văn số 1185/VPCP-KTTH ngày 20/7/2021 của Văn phòng Chính phủ), ngày 16/9/2021, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ tham mưu giúp Chính phủ tổ chức thành công Hội nghị của Chính phủ về công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế. Hội nghị đã xác định những nội dung, định hướng cụ thể trong công tác hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, xác định phương hướng, giải pháp về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ trong công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật; nâng năng lực, nguồn lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật và pháp chế; xác định rõ trách nhiệm của từng ngành, từng cấp trong các công tác này.
Để tổ chức triển khai thực hiện toàn diện, thống nhất và hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp được Thủ tướng Chính phủ giao tại Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 233/QĐ-BTP ngày 18/02/2021 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật, trong đó phân công cụ thể nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Hoàn thiện pháp luật về ban hành văn bản QPPL; tổ chức triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản QPPL và văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành
Để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản QPPL, đảm bảo đồng bộ với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020), Bộ Tư pháp đã nghiên cứu, xây dựng Thông tư hướng dẫn việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính (TTHC) trong lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và soạn thảo dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thay thế Thông tư số 07/2014/TT-BTP ngày 24/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đánh giá tác động của TTHC và rà soát, đánh giá TTHC, dự kiến sẽ ban hành trong tháng 12 năm 2021.
Thực hiện nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật (Thông tư số 338/2016/TT-BTC), xây dựng dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 338/2016/TT-BTC.
Thực hiện Quyết định số 1323/QĐ-TTg ngày 31/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quyết định số 1995/QĐ-BTP ngày 25/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp. Trong năm 2021, Bộ Tư pháp đã xây dựng tài liệu và tổ chức Tập huấn chuyên sâu Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho các bộ, ngành, địa phương theo hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến; xây dựng sách “
Những điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quy định chi tiết”; xây dựng dự thảo “
Sách hỏi đáp về Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật”, dự kiến xuất bản trong năm 2022.
Về lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
- Về lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết:
Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 15/11/2021, các bộ, cơ quan ngang bộ đã lập đề nghị xây dựng 14 dự án luật, 08 dự thảo nghị quyết của Quốc hội. Thông qua công tác thẩm định, Bộ Tư pháp nhận thấy, trong quá trình lập đề nghị, các bộ, cơ quan ngang bộ đã cơ bản tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị đưa dự án vào Chương trình có tiến bộ rõ rệt cả về hình thức và chất lượng, bảo đảm thời gian theo luật định. Về cơ bản, các dự án luật, pháp lệnh đề nghị đưa vào Chương trình được đầu tư chuẩn bị kỹ lưỡng hơn, công phu, tập trung vào nội dung chính sách được đề xuất để quy định trong luật, bảo đảm tính khả thi.
Thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 10/02/2021 của Chính phủ về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01/2021, các bộ, cơ quan ngang Bộ đã phối hợp với Bộ Tư pháp tiếp thu ý kiến thành viên Chính phủ, chỉnh lý đề nghị của Chính phủ về Chương trình năm 2022, điều chỉnh Chương trình năm 2021 trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ngày 25/2/2021, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình số 63/TTr-CP trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị của Chính phủ về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021. Ngày 23/4/2021, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đã tổ chức Phiên họp thẩm tra đối với đề nghị của Chính phủ về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, điều chỉnh Chương trình năm 2021. Theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã thay mặt Chính phủ, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình số 148/TTr-CP ngày 26/5/2021 về việc điều chỉnh đề nghị của Chính phủ về Chương trình. Bên cạnh đó, Chính phủ đã có Báo cáo số 175/BC-CP ngày 02/6/2021 về việc cung cấp bổ sung thông tin, giải trình một số nội dung về Chương trình năm 2022, điều chỉnh Chương trình năm 2021 trước khi báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XV, ngày 27/7/2021, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết
17/2021/QH15 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021. Quốc hội quyết nghị bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021 dự án Luật sửa đổi, bổ sung Phụ lục-Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia của Luật Thống kê; đồng thời điều chỉnh thời gian trình dự án Luật Thanh tra (sửa đổi) từ Chương trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2021) sang Chương trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ 3 (tháng 5/2022) và thông qua tại kỳ họp thứ 4 (tháng 10/2022). Về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, tại kỳ họp thứ 3 (tháng 5/2022), các luật trình Quốc hội thông qua gồm: Luật Cảnh sát cơ động; Luật Điện ảnh (sửa đổi); Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi); Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023 (và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022). Các luật trình Quốc hội cho ý kiến: Luật Dầu khí (sửa đổi); Luật Đất đai (sửa đổi) (cho ý kiến lần 1); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi); Luật Thanh tra (sửa đổi); Luật Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Tại kỳ họp thứ 4 (tháng 10/2022), các luật trình Quốc hội thông qua gồm: Luật Dầu khí (sửa đổi); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi); Luật Thanh tra (sửa đổi); Luật Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Các luật trình Quốc hội cho ý kiến là: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi); Luật Đất đai (sửa đổi) (cho ý kiến lần 2).
- Về lập đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh:
Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 15/11/2021, các bộ, ngành đã trình Chính phủ 02 đề nghị xây dựng nghị định; cơ quan chuyên môn của thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh đã trình Hội đồng nhân dân tỉnh 501 đề nghị. Việc lập đề nghị đã được bộ, ngành, địa phương thực hiện theo đúng quy định của Luật năm 2015, Luật năm 2020 từ việc tổng kết, lấy ý kiến các cơ quan, đơn vị liên quan và gửi thẩm định trước khi trình Chính phủ, trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua, nhằm quy định biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, biện pháp để thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng thuộc thẩm quyền của Chính phủ, địa phương.
Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Để xây dựng và cải thiện chất lượng pháp luật, tạo môi trường pháp lý lành mạnh, thích ứng với tình hình thực tiễn, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chú trọng và tập trung cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, duy trì ổn định để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Về xây dựng, trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết:
Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 15/11/2021, các bộ, cơ quan ngang bộ đã trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến đối với 11 dự án luật, dự thảo nghị quyết tại các Phiên họp Chính phủ thường kỳ và Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật (Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi); Luật Điện ảnh (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Cảnh sát cơ động; Luật sửa đổi, bổ sung Phụ lục - Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia của Luật Thống kê; Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Hải quan, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thanh Hóa; Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Nghệ An; Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng).
Trong năm 2021, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua 06 dự án (02 luật, 04 nghị quyết) và trình Quốc hội cho ý kiến đối với 05 dự án luật, gồm: Tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIV, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua 01 dự án Luật (Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi). Tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XV, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua 01 dự án Luật (Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều và phụ lục danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia của Luật Thống kê) và 04 dự thảo nghị quyết (Nghị quyết về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thanh Hóa; Nghị quyết về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghị quyết về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Nghệ An; Nghị quyết về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng). Tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XV, Chính phủ đã trình Quốc hội cho ý kiến đối với 05 dự án luật, gồm: Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi); Luật Điện ảnh (sửa đổi); Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Cảnh sát cơ động.
- Xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết:
Văn bản quy định chi tiết các luật đã có hiệu lực: Trên cơ sở báo cáo của các bộ, kết quả rà soát của Bộ Tư pháp, tính đến này 15/11/2021, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ vẫn còn nợ ban hành 06 văn bản quy định chi tiết 05 luật, pháp lệnh đã có hiệu lực.
Văn bản quy định chi tiết các luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2022: Các bộ đang tiếp tục xây dựng, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền 53 văn bản quy định chi tiết thi hành các luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2022. Những văn bản này hiện đã ở vào tình trạng chậm, dự báo khó đảm bảo có hiệu lực cùng với thời điểm có hiệu lực của luật.
Công tác thẩm định, kiểm soát TTHC đối với dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đã được các bộ quan tâm chỉ đạo thực hiện gắn kết với vai trò đầu mối là tổ chức pháp chế đã đi vào nề nếp và có sự kiểm soát chặt chẽ, góp phần nâng cao chất lượng văn bản.
Đối với công tác thẩm định các nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã tuân thủ đầy đủ quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020) về trình tự, thủ tục, nội dung thẩm định. Tất cả các dự thảo đều được Bộ Tư pháp thành lập Hội đồng thẩm định hoặc Hội đồng tư vấn thẩm định theo đúng quy định. Nội dung thẩm định đã bám sát quy định Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020), trong đó chú trọng tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, vấn đề về TTHC, lồng ghép giới và kiên quyết không đưa các quy định về tổ chức, bộ máy, biên chế trong các văn bản pháp luật không thuộc lĩnh vực tổ chức nhà nước. Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 15/11/2021, Bộ Tư pháp đã thẩm định đối với 134 dự thảo văn bản QPPL (gồm 101 nghị định, 33 quyết định của Thủ tướng Chính phủ). Việc thẩm định các thông tư là văn bản quy định chi tiết, thời gian qua đã được các bộ, cơ quang ngang bộ tích cực quan tâm, chỉ đạo đầu mối là tổ chức pháp chế. Theo đó, hoạt động thẩm định thông tư cũng dần đi vào nề nếp, việc đánh giá, thẩm định đảm bảo chất lượng của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Về công tác kiểm soát TTHC, từ ngày 01/01/2021 đến ngày 15/11/2021, Bộ Tư pháp đã thực hiện thẩm định đối với 337 TTHC tại 48 đề nghị xây dựng và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (gồm 06 luật, 35 nghị định, 04 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 03 thông tư) do các bộ, cơ quan ngang bộ, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo. Trong đó, Bộ đã đề nghị không quy định 03 TTHC, đề nghị sửa đổi 241 TTHC (chiếm tỷ lệ 71% tổng số TTHC quy định tại các đề nghị xây dựng và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật). Ý kiến thẩm định về TTHC đã được các cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo tiếp thu tại cuộc họp thẩm định, làm cơ sở để hoàn thiện quy định TTHC trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng quy định TTHC, chất lượng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của địa phương:
Công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua tiếp tục được các cấp chính quyền, địa phương quan tâm, quán triệt thực hiện nghiêm túc. Từ ngày 01/01/2021đến ngày 15/11/2021, theo báo cáo của địa phương và số liệu cập nhật tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã ban hành 819 nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành 2292 quyết định. Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đúng trình tự, thủ tục quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020). Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp; đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán của địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
Công tác rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Để cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật, bên cạnh việc tăng cường, nâng cao chất lượng công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thông qua công tác rà soát, kiểm tra, xử lý văn bản để kiểm soát chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, qua đó kịp thời phát hiện những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp, thậm chí là trái pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện, hệ thống pháp luật, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, một số kết quả đạt được như sau:
- Về công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật:
Trong năm 2021, các bộ, ngành tiếp tục tập trung thực hiện công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ và nhiệm vụ của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết của Chính phủ, Công văn chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo, đề nghị liên quan khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thực hiện Quyết định số 376/QĐ-TCT ngày 15/3/2021 ban hành Kế hoạch hoạt động năm 2021 của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản QPPL, các Nhóm rà soát văn bản theo chuyên đề, lĩnh vực của Tổ công tác đã hoàn thành việc rà soát 05 chuyên đề theo Kế hoạch; các chuyên đề đang được tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức liên quan và các chuyên gia để hoàn thiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Thực hiện Nghị quyết số 129/NQ-CP ngày 11/9/2020 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 năm 2020 (mục 12), ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 1016/VPCP-PL ngày 09/02/2021 của Văn phòng Chính phủ (điểm a mục 2) liên quan đến việc thực hiện sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo các phương án đã được nêu tại Báo cáo số 442/BC-CP ngày 01/10/2020 của Chính phủ về kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về: (i) Kết quả thực hiện nhiệm vụ rà soát văn bản QPPL năm 2020 và đề xuất các lĩnh vực pháp luật cần rà soát trong năm 2021; (ii) Về việc chỉnh lý dự thảo Quyết định ban hành Danh mục văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới và tình hình thực hiện nhiệm vụ tiếp tục rà soát văn bản quy phạm pháp luật (trên cơ sở về kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước đã được Chính phủ báo cáo Quốc hội tại Báo cáo số 442/BC-CP ngày 01/10/2020); (iii) Kết quả giải quyết kiến nghị của Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài; (iv) trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 889/QĐ-TTg ngày 07/6/2021 về Danh mục văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, bao gồm: 16 luật, 12 nghị định, 04 văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành để giao các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức triển khai thực hiện; (v) xây dựng Báo cáo Ủy ban Kinh tế của Quốc hội về tình hình rà soát văn bản QPPL về đầu tư, kinh doanh (theo yêu cầu tại Công văn số 2532/UBKT14 ngày 21/5/2021 của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội).
Thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, sau khi nhận được báo cáo rà soát, kiến nghị, phản ánh của các bộ, ngành, địa phương, Bộ Tư pháp đã tổng hợp, phân loại, chuyển các phản ánh, kiến nghị về các quy định gây mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, không còn phù hợp với thực tiễn đến các bộ, cơ quan ngang bộ theo lĩnh vực quản lý nhà nước để nghiên cứu, đề xuất phương án xử lý theo chỉ đạo. Trên cơ sở báo cáo kết quả của các bộ, cơ quan ngang bộ về kết quả rà soát, nghiên cứu, xử lý kiến nghị, phản ánh của các bộ, ngành, địa phương về quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với thực tiễn theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại các văn bản nêu trên, Bộ Tư pháp đã có Báo cáo số 226/BC-BTP ngày 12/10/2021 về việc nghiên cứu, đề xuất phương án xử lý đối với kiến nghị, đề xuất của các bộ, ngành, địa phương về quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với thực tiễn thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp; Báo cáo số 229/BC-BTP ngày 15/10/2021 của Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ về kết quả rà soát, nghiên cứu, xử lý kiến nghị, phản ánh về quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp thực tiễn thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ.
- Về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật:
Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 15/11/2021, trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan cấp bộ và địa phương ban hành gửi đến để kiểm tra theo thẩm quyền và từ các nguồn thông tin do công dân, cơ quan, tổ chức, báo chí phản ánh, Bộ Tư pháp đã kiểm tra theo thẩm quyền đối với 3644 văn bản (gồm 301 văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ; 3343 văn bản của địa phương). Qua kiểm tra đã phát hiện, kết luận kiểm tra, kiến nghị xử lý đối với 77 văn bản có quy định trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung (gồm 05 văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ; 72 văn bản của địa phương), trong đó có 09 văn bản không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng có chứa quy phạm pháp luật (01 văn bản của cấp bộ, 08 văn bản của địa phương). Đến nay, có 50/77 văn bản đã được cơ quan ban hành xử lý. Ngoài ra, trên cơ sở theo dõi, đôn đốc của Bộ Tư pháp, có 28 văn bản có quy định trái pháp luật được Bộ Tư pháp kết luận trước năm 2021 đã được cơ quan ban hành xử lý.
Những kết quả nêu trên đã góp phần tích cực vào việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, nội luật hóa các điều ước, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cụ thể hóa các quy định của luật, pháp lệnh, đưa luật, pháp lệnh nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; hỗ trợ người dân, doanh nghiệp ứng phó với dịch bệnh Covid-19; ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; cải thiện môi trường kinh doanh; mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Với những kết quả nêu trên, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật của Việt Nam đã được các Tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Theo công bố của tổ chức Trí tuệ thế giới (WIPO), năm 2021 điểm số Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật năm 2021 của Việt Nam tăng từ 31,6 lên 36,6 so với năm 2020, giúp tăng thứ hạng của Việt Nam lên 6 bậc (từ 99 lên 93) đối với Chỉ số này, góp phần nâng hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam (Việt Nam xếp thứ 44/132 nền kinh tế được đánh giá). Đây không chỉ là giải pháp nâng tầm hình ảnh và vị thế đất nước, mà còn mở ra cơ hội, tạo thế mạnh trong việc thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.