Nhằm thực hiện tốt Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2014-2020, nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của đồng bào dân tộc thiểu số, lồng ghép vào các chính sách phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc; ngày 13/11/2014, Ủy ban Dân tộc và Bộ Tư pháp đã ký Chương trình phối hợp công tác số 1249a/CTPH-UBDT-BTP về việc phối hợp công tác giữa Ủy ban Dân tộc và Bộ Tư pháp giai đoạn 2014-2020. Sau 06 năm thực hiện Chương trình, công tác phối hợp giữa hai cơ quan đạt được nhiều kết quả, cụ thể là:
I. Kết quả phối hợp giữa hai cơ quan giai đoạn 2014-2020
1. Công tác chỉ đạo, điều hành
Để thực hiện có hiệu quả Chương trình phối hợp công tác số 1249a/CTPH-UBDT-BTP, tạo cơ sở đảm bảo cho việc triển khai, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến lĩnh vực công tác dân tộc, hai cơ quan đã chủ trì, phối hợp xây dựng các Quyết định ban hành Kế hoạch phối hợp công tác hằng năm. Trên cơ sở các Kế hoạch hằng năm, hai cơ quan đã phối hợp tổ chức các hội nghị quán triệt, phân công nhiệm vụ cụ thể và trao đổi những vướng mắc trong công tác tổ chức triển khai các nghiệp vụ phối hợp. Vụ Pháp chế, Ủy ban Dân tộc và Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ là đơn vị đầu mối, giúp lãnh đạo hai cơ quan theo dõi, kiểm tra việc tổ chức thực hiện ở hai cơ quan và các địa phương; hướng dẫn Ban Dân tộc và Sở Tư pháp các tỉnh triển khai thực hiện Chương trình phối hợp.
Tại địa phương, căn cứ nội dung Chương trình phối hợp công tác của hai cơ quan Trung ương, căn cứ Kế hoạch phối hợp công tác hằng năm và điều kiện thực tế của mỗi địa phương, Ban Dân tộc và Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố đã tiến hành xây dựng và triển khai Chương trình, Kế hoạch phối hợp hằng năm tại địa phương; đồng thời, căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao, Ban Dân tộc và Sở Tư pháp đã chỉ đạo triển khai các nội dung phối hợp ở cấp huyện, cơ sở.
2. Kết quả hoạt động theo nội dung của Chương trình phối hợp
2.1. Về công tác pháp luật
Giai đoạn 2014 - 2020, hai cơ quan đã có sự phối hợp chặt chẽ trong việc lập đề nghị, xây dựng, tham gia ý kiến đối với các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính phủ theo Chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hằng năm của Chính phủ có liên quan đến lĩnh vực dân tộc. Cụ thể là:
- Hai cơ quan đã nghiên cứu, xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Dân tộc (Luật Hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi). Dự án Luật Dân tộc đã được Chính phủ nhất trí đề nghị đưa vào chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh năm 2017 trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII (Tờ trình số 116/TTr-CP ngày 05/05/2016). Tuy nhiên, tại phiên họp lần thứ 49, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII đã thống nhất chưa đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017, đề nghị Ủy ban Dân tộc tiếp tục nghiên cứu về tên gọi, làm rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của dự án Luật.
- Từ năm 2014 đến nay, Bộ Tư pháp đã tham gia góp ý, thẩm định nhiều chương trình, đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực dân tộc hoặc do Ủy ban Dân tộc được giao chủ trì soạn thảo. Trong quá trình tham gia xây dựng, góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp luôn chú trọng đến tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lý, tính khả thi của các chính sách, tránh việc trùng lắp trong chính sách về dân tộc đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn. Kết quả cho thấy, với sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của Bộ Tư pháp, Ủy ban Dân tộc đã soạn thảo, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền 02 Nghị quyết của Quốc hội; 04 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 08 Thông tư của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.
Ở địa phương, từ năm 2015 đến nay, Ban Dân tộc các tỉnh đã phối hợp với Sở Tư pháp tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các Quyết định về ban hành Chương trình xây dựng Quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh; các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản cá biệt liên quan đến công tác dân tộc. Đồng thời, Sở Tư pháp và Ban Dân tộc cũng thường xuyên phối hợp, nghiên cứu, tham mưu cho Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc đưa các nội dung liên quan về phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số để pháp luật hóa nhằm bảo tồn, phát huy, phát triển những phong tục, tập quán, bản sắc tốt đẹp đó và có những chính sách hỗ trợ cho người đồng bào, dân tộc thiểu số.
2.2. Về công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật
a) Về công tác phối hợp kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực công tác dân tộc
Được sự phối hợp của Bộ Tư pháp, Ủy ban Dân tộc đã tiến hành tự kiểm tra các văn bản liên quan đến lĩnh vực dân tộc, bao gồm: Thông tư của Ủy ban Dân tộc, bộ, cơ quan ngang bộ và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan đến lĩnh vực công tác dân tộc. Kết quả kiểm tra cho thấy, nhìn chung các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban Dân tộc, bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định và nội dung văn bản không trái quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua quá trình kiểm tra cũng phát hiện có 11 văn bản có một số sai sót như không quy định hoặc quy định không đúng về thời gian có hiệu lực của văn bản; sai sót về căn cứ pháp lý, chưa đúng quy định của văn bản cấp trên; sai sót về nơi nhận... Ủy ban Dân tộc đã yêu cầu cơ quan ban hành tự kiểm tra, khắc phục theo quy định.
Ở địa phương, giai đoạn 2014 đến nay, Sở Tư pháp luôn luôn chú trọng và thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, nhất là những văn bản liên quan đến lĩnh vực dân tộc. Hằng năm, thực hiện Kế hoạch kiểm tra văn bản, Sở Tư pháp phối hợp với Ban Dân tộc thường xuyên tiến hành tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Qua quá trình kiểm tra đã kịp thời phát hiện và đề xuất phương hướng xử lý đối với những văn bản có dấu hiệu trái pháp luật và đề nghị Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành, sửa đổi, bổ sung theo đúng quy định.
b) Về công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật
Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp, cùng với sự phối hợp tích cực, hiệu quả của Bộ Tư pháp, Ủy ban Dân tộc đã tiến hành rà soát hệ thống chính sách pháp luật về lĩnh vực công tác dân tộc. Kết quả như sau cụ thể như sau:
Từ năm 2014 đến nay, tổng số văn bản pháp luật có quy định liên quan đến công tác dân tộc, chính sách dân tộc được rà soát: 324 văn bản (Hiến pháp năm 2013; 85 bộ luật, luật; 05 nghị quyết của Quốc hội; 01 nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; 52 nghị định của Chính phủ; 11 nghị quyết của Chính phủ; 01 nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 118 quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 49 thông tư, thông tư liên tịch; 02 quyết định của Bộ trưởng). Theo đó, phát hiện 10 văn bản có nội dung mâu thuẫn, chồng chéo (02 nghị định của Chính phủ; 06 thông tư, thông tư liên tịch; 02 quyết định của Bộ trưởng); 19 văn bản có nội dung không còn phù hợp với thực tiễn (06 nghị định của Chính phủ; 06 quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 07 thông tư, thông tư liên tịch); 19 chính sách chưa được ghi nhận hoặc chưa được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật. Đối với các chính sách liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn hiệu lực, kết quả rà soát cho thấy: 48 chính sách được tiếp tục thực hiện; 27 chính sách được tích hợp vào Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.
Năm 2020, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương có liên quan tổ chức rà soát các văn bản liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và chính sách dân tộc để đề xuất, sửa đổi, bổ sung, thay thế và bãi bỏ kịp thời các văn bản không còn phù hợp, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Hai cơ quan cũng đã phối hợp trong việc xây dựng Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội khóa XIV tại kỳ họp thứ 10 về kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước (Báo cáo số 442/BC-CP ngày 01/10/2020).
Ở địa phương, Sở Tư pháp thường xuyên phối hợp với Ban Dân tộc rà soát, lập danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ, hoặc một phần của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; gửi báo cáo rà soát hằng năm về Bộ Tư pháp đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng.
c) Về công tác pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật
Thực hiện Pháp lệnh pháp điển, hai cơ quan đã thường xuyên phối hợp thực hiện nhiệm vụ pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật. Năm 2018, nhiệm vụ xây dựng Đề mục pháp điển công tác dân tộc đã hoàn thành, công tác pháp điển được hiện đúng kế hoạch, đảm bảo tiến độ được giao.
Thời gian qua, hai cơ quan đã phối hợp xây dựng Báo cáo công tác năm, báo cáo đột xuất, báo cáo chuyên đề về công tác kiểm tra, rà soát, pháp điển theo quy định.
2.3. Về công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật
Thực hiện đầy đủ theo đúng quy định của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật, Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 59/2012/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành; căn cứ nhiệm vụ, tình hình thực tế và văn bản hướng dẫn của Bộ Tư pháp, hằng năm, Ủy ban Dân tộc đều ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật hằng năm và giai đoạn; đồng thời, xây dựng Báo cáo kết quả công tác theo dõi tình hình pháp luật của Ủy ban Dân tộc gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp, báo cáo Chính phủ.
Đối với các địa phương, thực hiện chức năng tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong công tác theo dõi thi hành pháp luật, Sở Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Ban Dân tộc các tỉnh ban hành Kế hoạch để triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh; đồng thời, căn cứ vào hướng dẫn của Bộ Tư pháp và tình hình thực tiễn tại địa phương, xác định cụ thể lĩnh vực trọng tâm để theo dõi. Bên cạnh đó, hằng năm, Ban Dân tộc tham gia đầy đủ các lớp tập huấn nghiệp vụ về xử lý vi phạm hành chính vào theo dõi tình hình thi hành pháp luật do Sở Tư pháp tổ chức.
2.4. Về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Hằng năm, hai cơ quan đều phối hợp ban hành Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để chỉ đạo, hướng dẫn Ban Dân tộc và Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố tập trung đổi mới nội dung, nâng cao hiệu quả các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật hiện có, triển khai nhân rộng những hình thức phổ biến giáo dục pháp luật mới đang phát huy hiệu quả trên thực tế, tập trung đối tượng phổ biến là người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Bộ Tư pháp đã phối hợp với Uỷ ban Dân tộc hỗ trợ địa phương xây dựng 02 mô hình điểm ở các xã, thôn, bản về đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và chính sách dân tộc. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan, các chuyên gia, các nhà khoa học biên soạn các tài liệu, đề cương giới thiệu các quy định của pháp luật có liên quan, các chính sách dân tộc hiện hành và biên soạn, phát hành 02 cuốn sổ tay cung cấp đầu sách pháp luật cho các đại biểu tham dự 07 hội nghị với số lượng khoảng 3.500 đầu sách. Ngoài ra, tại 02 xã xây dựng mô hình điểm, Ủy ban Dân tộc đã hỗ trợ mỗi xã khoảng 60 đầu sách pháp luật liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người dân để phục vụ hoạt động của mô hình và các thành viên tham gia.
Đối với các địa phương, với vai trò là cơ quan thường trực của Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật, hằng năm, Sở Tư pháp đã chủ động phối hợp với Ban Dân tộc và các sở, ngành có liên quan tham mưu cho Hội đồng Phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh xây dựng các chương trình, kế hoạch tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật; tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Hằng năm, Ban Dân tộc chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp và các ban, ngành có liên quan đã tổ chức được nhiều hội nghị, hội thảo, tập huấn, tọa đàm, hội thi phổ biến, giáo dục pháp luật.
Bên cạnh hình thức tuyên truyền thông qua hội nghị, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật còn được thực hiện thông qua việc biên soạn, in ấn, phát hành tài liệu tuyên truyền, qua bảng tin, tờ gấp, tờ rơi có nội dung tuyên truyền pháp luật để cấp cho các đối tượng trong đó có người dân ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Bên cạnh đó, hằng năm, Sở Tư pháp cũng phối hợp với các cơ quan có liên quan, trong đó có Ban Dân tộc tổ chức các hoạt động hưởng ứng “Ngày Pháp luật Việt Nam” phù hợp với điều kiện của địa phương. Các hoạt động này đã góp phần tích cực trong việc nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
2.5. Về công tác trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở
a) Công tác trợ giúp pháp lý:
- Thực hiện Quyết định số 2324/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, hai cơ quan đã phối hợp, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg về chính sách TGPL cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo, xã nghèo giai đoạn 2016 - 2020 và hỗ trợ vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp hoặc điển hình (Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg) thay thế Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011 – 2020 và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 – 2020.
- Từ năm 2016 đến nay, Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg để quán triệt thực hiện và trao đổi, hướng dẫn, giải đáp những khó khăn, vướng mắc của địa phương trong quá trình triển khai thực hiện Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg và trang bị cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý các kiến thức chuyên sâu về Luật Trợ giúp pháp lý cũng như kỹ năng trợ giúp pháp lý trong các lĩnh vực pháp luật và kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý cho một số đối tượng đặc thù như người khuyết tật, người nghèo, trẻ em...
- Bộ Tư pháp đã chỉ đạo, hướng dẫn Sở Tư pháp tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đại diện cho các vùng, miền, khu vực thực hiện khảo sát nhu cầu trợ giúp pháp lý của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn (bằng hình thức phỏng vấn sâu và khảo sát bằng phiếu) nhằm phục vụ xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi).
- Bộ Tư pháp đã chỉ đạo Trung tâm trợ giúp pháp lý tổ chức 6.090 đợt truyền thông về trợ giúp pháp lý ở cơ sở tại xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc địa bàn thụ hưởng chính sách có nhiều người dân tộc thiểu số tại các huyện trên địa bàn tỉnh cho 409.129 lượt người tham dự. Trong 05 năm tính từ 01/01/2016 đến 31/10/2020, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thực hiện trợ giúp pháp lý được 304.050 vụ việc cho 283.437 lượt người, trong đó có 78.903 người dân tộc thiểu số. Thông qua việc thực hiện các vụ việc cụ thể đã giúp đồng bào dân tộc thiểu số bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết và ý thức pháp luật, trên cơ sở đó để họ ứng xử phù hợp với pháp luật, tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần bảo đảm công lý, thực hiện công bằng xã hội, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phòng ngừa vi phạm pháp luật. Đồng thời, hiện nay, hầu hết các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn đã thiết lập đường dây nóng về trợ giúp pháp lý, theo đó, đã có 6.812 lượt người dân gọi đến để phản ánh những khó khăn, vướng mắc về pháp luật phát sinh trong cuộc sống. Ngoài ra, các trung tâm Trợ giúp pháp lý cũng đã xây dựng được 20.000 chuyên trang chuyên mục về trợ giúp pháp lý bằng tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số trên đài truyền thanh xã.
Đối với các địa phương, trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý trong các Chương trình đã có những tác động tích cực đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn; nhu cầu trợ giúp pháp lý của đồng bào dân tộc thiểu số đã được đáp ứng kịp thời, chất lượng dịch vụ pháp lý miễn phí từng bước được nâng lên.
b) Công tác hòa giải ở cơ sở
Trong các Công văn hướng dẫn thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở hằng năm của Bộ Tư pháp đều có nội dung hướng dẫn gắn thực hiện nội dung chủ trì phối hợp trong Chương trình phối hợp công tác số 1249a/CTPH-UBDT-BTP với việc triển khai thi hành Luật hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Ngoài ra, để tạo nguồn cán bộ tập huấn về công tác hòa giải cho các địa phương, Bộ Tư pháp đã mở các khóa tập huấn (ngắn hạn) cho công chức Sở Tư pháp tỉnh; tổ chức hỗ trợ làm điểm một số lớp tập huấn cho hòa giải viên tại một số địa phương...
Đối với các địa phương, hằng năm, Sở Tư pháp ban hành văn bản để hướng dẫn củng cố, kiện toàn tổ hòa giải và hòa giải viên. Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tư pháp, cơ quan tư pháp các cấp đã thực hiện rà soát, thống kê số liệu về tổ chức và hoạt động hòa giải trên địa bàn, kịp thời hướng dẫn, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cùng cấp có biện pháp củng cố, kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ hoà giải ở địa phương. Các tổ hòa giải được củng cố, kiện toàn đảm bảo theo quy định, đảm bảo có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số có hiểu biết pháp luật, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số đối với xóm có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Tính đến tháng 12/2019, cả nước có 96 .896 tổ hòa giải với 601.312 hòa giải viên. Trong đó, số hòa giải viên là người dân tộc thiểu số là 153.031 người…
2.6. Công tác pháp chế
Công tác pháp chế luôn được đồng chí Bộ trưởng, Chủ nhiệm và các đồng chí Lãnh đạo Ủy ban Dân tộc xác định là khâu đột phá, là nhiệm vụ quan trọng đối với lĩnh vực dân tộc. Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Ủy ban Dân tộc, sự phối hợp có hiệu quả của Bộ Tư pháp, công tác pháp chế của Ủy ban Dân tộc không ngừng phát triển, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của người làm công tác pháp chế không ngừng được nâng cao.
Với mục tiêu nâng cao chất lượng chuyên môn kịp thời đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới đối với người làm công tác pháp chế, trong thời gian qua, Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức các buổi Hội nghị, hội thảo, tập huấn chuyên sâu kỹ năng nghiệp vụ công tác pháp chế đối với người làm công tác pháp chế ở Bộ, ngành, địa phương và đã nhận được sự quan tâm, tham gia của đông đảo cán bộ, công chức và người làm công tác pháp chế các bộ, ngành, địa phương, trong đó có Vụ Pháp chế của Ủy ban dân tộc và Ban dân tộc các tỉnh. Thông qua các cuộc Hội nghị, tập huấn này, nhiều khó khăn, vướng mắc về công tác pháp chế đã được giải đáp; từ đó, chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức pháp chế ngành dân tộc dần được nâng lên.
Trong giai đoạn 2015 - 2020, hằng năm, Ủy ban Dân tộc đã tiến hành kiểm tra công tác pháp chế ở một số khu vực miền núi phía Bắc và khu vực phía Nam.
Ở địa phương, một số Sở Tư pháp đã tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ pháp chế cho người làm công tác pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, trong đó có sự tham gia của Ban Dân tộc với nhiều nội dung như: Kỹ thuật soạn thảo văn bản QPPL; phổ biến Luật Ban hành văn bản QPPL, kỹ năng kiểm tra, rà soát, văn bản QPPL, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật và phổ biến các văn bản QPPL mà Quốc hội đã thông qua tại các kỳ họp.
3. Đánh giá chung
Sau 06 năm thực hiện Chương trình, công tác phối hợp giữa Ủy ban Dân tộc và Bộ Tư pháp đã được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ, có trọng tâm, trọng điểm, đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận:
- Hai cơ quan đã hoàn thành tốt các Chương trình, kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; tiến độ và chất lượng văn bản do hai bên phối hợp xây dựng đều được đảm bảo, không có văn bản nợ đọng;
- Công tác thẩm định, kiểm tra, rà soát, theo dõi thi hành văn bản quy phạm pháp luật luôn được quan tâm, chú trọng; hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, hoà giải ở cơ sở đi vào chiều sâu, không ngừng đẩy mạnh và ngày càng có hiệu quả tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế của ngành dân tộc ngày càng được nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ;
- Các đơn vị chức năng của Uỷ ban Dân tộc (Vụ Chính sách Dân tộc, Văn phòng Điều phối Chương trình 135, Vụ Dân tộc thiểu số, Vụ Tuyên truyền, Văn phòng…) và Bộ Tư pháp (Vụ Pháp luật Hình sự - hành chính, Dân sự - Kinh tế, Cục Kiểm tra, Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Nhà xuất bản Tư pháp…), đặc biệt đơn vị đầu mối là Vụ Pháp chế, Ủy ban Dân tộc và Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp luôn chủ động, tích cực trao đổi, phối hợp trong công tác chuyên môn bằng nhiều hình thức linh hoạt.
- Ở địa phương, Chương trình phối hợp được triển khai nghiêm túc, hiệu quả. Ban Dân tộc và Sở Tư pháp chủ động phối hợp, trao đổi thông tin, nghiệp vụ công tác thường xuyên, đồng bộ, đạt hiệu quả cao. Những địa phương thực hiện tốt Chương trình phối hợp có thể kể đến là: Cao Bằng, Hoà Bình, Thừa Thiên Huế, Đăk Nông, Sóc Trăng và Cà Mau.
4. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
4.1. Tồn tại, hạn chế
- Về nguồn lực:
Mặc dù đã được củng cố, kiện toàn nhưng đội ngũ người làm công tác pháp chế ngành công tác dân tộc ở cả Trung ương và địa phương còn hạn chế về số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó, kinh phí dành cho công tác pháp chế nói chung còn hạn hẹp, chưa ngang tầm nhiệm vụ được giao.
Đội ngũ cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên người dân tộc hoặc biết tiếng dân tộc còn thiếu; năng lực còn hạn chế nên việc xây dựng văn bản, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số chưa mang lại hiệu quả cao;
- Về phương thức tổ chức thực hiện: Việc triển khai Chương trình, kế hoạch phối hợp đôi khi còn chưa được khoa học, một số nhiệm vụ còn triển khai chậm, dồn vào cuối năm. Từ đó dẫn đến tình trạng, một số nội dung triển khai bị động, hiệu quả chưa cao.
Ở một số địa phương, Ban Dân tộc và Sở Tư pháp còn chưa có sự gắn kết; theo đó, hai cơ quan chưa phối hợp xây dựng và ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình phối hợp hoặc có ban hành nhưng việc phối hợp triển khai không hiệu quả.
- Về tài liệu: Tài liệu pháp luật, tài liệu để tuyên truyền, tập huấn bằng tiếng dân tộc còn hạn chế, nghèo nàn.
4.2. Nguyên nhân:
- Nội dung phối hợp công tác giữa hai ngành Dân tộc và Tư pháp chưa nhiều, một số nội dung còn mang tính thụ động, hình thức. Ở địa phương, Lãnh đạo một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác dân tộc, công tác pháp chế.
- Đồng bào dân tộc thiểu số hiểu biết pháp luật không đồng đều, sinh sống tại vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn.
- Địa phương vùng dân tộc thiểu số và miền núi thường là vùng khó khăn, chưa tự cân đối được ngân sách, do đó việc bố trí kinh phí cho công tác dân tộc, công tác pháp chế còn gặp nhiều khó khăn.
II. Phương hướng, nhiệm vụ phối hợp giữa Ủy ban Dân tộc và Bộ Tư pháp thực hiện công tác giai đoạn 2022 - 2026
1. Công tác xây dựng pháp luật
- Hai cơ quan phối hợp chặt chẽ trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; các chương trình, đề án, dự án, chính sách có liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi;
- Bộ Tư pháp tham gia ý kiến về mặt pháp lý, thẩm định kịp thời các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đề án, dự án, chính sách do Ủy ban Dân tộc xây dựng trình cấp có thẩm quyền; cử thành viên tham gia Ban soạn thảo, Tổ biên tập các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đề án, dự án, chính sách do Ủy ban Dân tộc chủ trì soạn thảo;
- Hai cơ quan phối hợp trong công tác hợp tác quốc tế để nghiên cứu luật so sánh, nghiên cứu, chọn lọc điều ước quốc tế liên quan để cùng nhau xem xét vận dụng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc tại Việt Nam;
- Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng dự án Luật về lĩnh vực công tác dân tộc, theo đó, xác định rõ mục đích, yêu cầu, tên gọi của Luật, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 2013 về lĩnh vực dân tộc, công tác dân tộc; phối hợp lập hồ sơ đề nghị đưa dự án Luật về lĩnh vực công tác dân tộc vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội;
- Hai cơ quan tăng cường sự phối hợp trong hoạt động xây dựng và bảo vệ các Báo cáo quốc gia của các Công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên.
2. Công tác kiểm tra, xử lý; rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật
- Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Ủy ban Dân tộc chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương liên quan tổ chức rà soát định kỳ, thường xuyên các văn bản pháp luật liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và chính sách dân tộc, để kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ các văn bản không còn phù hợp, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
- Hai cơ quan phối hợp kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực công tác dân tộc, phát hiện kịp thời những thiếu sót, bất cập, hạn chế, không còn phù hợp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chính sách dân tộc để sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc xử lý theo quy định.
- Hai cơ quan phối hợp thực hiện các nhiệm vụ về hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc.
3. Công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và quản lý xử lý vi phạm hành chính
- Hai cơ quan phối hợp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực dân tộc; phối hợp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trọng tâm, liên ngành giai đoạn 2022 - 2026.
- Hai cơ quan phối hợp thực hiện các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Bộ Tư pháp kịp thời hướng dẫn về nghiệp vụ xử lý vi phạm hành chính theo đề nghị của Ủy ban Dân tộc.
4. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
- Thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2022 - 2026 theo Dự án 10, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 đã được Quốc hội phê duyệt;
- Tổ chức “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (ngày 09 tháng 11 hằng năm), ưu tiên lựa chọn các nội dung liên quan trực tiếp đến đời sống, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; hình thức phù hợp với phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số;
- Triển khai thực hiện kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về thực hiện Chỉ thị 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân.
5. Công tác hòa giải ở cơ sở
- Chỉ đạo việc củng cố, kiện toàn tổ hòa giải ở cơ sở bảo đảm có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số có hiểu biết pháp luật, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số đối với vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống;
- Tổ chức tuyên truyền, vận động, khuyến khích đồng bào dân tộc thiểu số giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng hình thức hòa giải ở cơ sở;
- Chỉ đạo, tổ chức vận động, có chính sách khuyến khích người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tham gia làm hòa giải viên hoặc tham gia thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở.
6. Công tác trợ giúp pháp lý
- Nghiên cứu xây dựng cơ chế hoạt động, chính sách hỗ trợ, lồng ghép các chương trình thực hiện trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số với Chương trình giảm nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi;
- Nghiên cứu xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện nghèo, xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn, bản đặc biệt khó khăn và hỗ trợ vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp, điển hình giai đoạn 2022-2026.
- Nghiên cứu xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và hỗ trợ trợ giúp viên pháp lý là người dân tộc thiểu số, người biết tiếng dân tộc thiểu số có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định.
- Chỉ đạo Sở Tư pháp, cơ quan công tác dân tộc cấp tỉnh thực hiện đặt bảng tin, hộp tin và cập nhật thông tin, tài liệu liên quan đến quyền được trợ giúp pháp lý của đồng bào bằng tiếng dân tộc thiểu số tại trung tâm xã và nhà sinh hoạt cộng đồng, đảm bảo người dân tộc thiểu số được tiếp cận pháp luật và các dịch vụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
7. Công tác pháp chế
- Hai cơ quan phối hợp thực hiện các nội dung, chương trình, kế hoạch nhằm tăng cường năng lực cho đội ngũ những người làm công tác pháp chế của ngành dân tộc;
- Bộ Tư pháp hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ pháp chế cho đội ngũ những người làm công tác pháp chế của ngành dân tộc; cử báo cáo viên tham gia các lớp tập huấn để nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm công tác pháp chế ngành dân tộc;
- Phối hợp tổ chức hội nghị, hội thảo và các diễn đàn về công tác pháp chế giữa hai cơ quan./.
Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật