I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Khái niệm về thẩm định, thẩm định quy định thủ tục hành chính
1.1. Khái niệm thẩm định
- Khái niệm “
thẩm định”:
Dưới góc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp biên soạn, thì “
thẩm định có nghĩa là xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp lý bằng văn bản về một vấn đề nào đó”.
- Khái niệm
“thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” và
“thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”:
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (sau đây gọi là Luật năm 2015), cũng như Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL, được sửa đổi, bổi sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) (sau đây gọi là Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), không giải thích khái niệm
“thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL” cũng như khái niệm
“thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL[1]”.
Do pháp luật hiện hành không đưa ra định nghĩa chính thức về các khái niệm
“thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL” và
“thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL”, nên căn cứ vào quy định của Luật năm 2015 liên quan đến thẩm định đề nghị xây dựng cũng như dự án, dự thảo VBQPPL, có thể hiểu chung khái niệm “thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL và dự án, dự thảo VBQPPL” là
“Hoạt động đánh giá đề nghị xây dựng VBQPPL hoặc dự án, dự thảo VBQPPL theo các nội dung thẩm định được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL để đưa ra kết luận đề nghị xây dựng VBQPPL hoặc dự án, dự thảo VBQPPL đủ hay không đủ điều kiện trình cơ quan có thẩm quyền”.
1.2. Thẩm định quy định thủ tục hành chính (TTHC)
Thẩm định quy định TTHC là một nội dung của thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL, thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL.
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, TTHC theo nghĩa rộng là “
cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước”. Quy định TTHC lần đầu tiên được đưa vào Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát TTHC. Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP thì: “
TTHC là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”.
Đồng thời, Thông tư số 03/2022/TT-BTP ngày 10/02/2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đánh giá tác động của TTHC trong lập đề nghị xây dựng VBQPPL và soạn thảo dự án, dự thảo VBQPPL (sau đây gọi là Thông tư số 03/2022/TT-BTP) cũng định nghĩa về đề nghị xây dựng VBQPPL có liên quan đến TTHC và dự án, dự thảo VBQPPL có quy định TTHC, cụ thể là “
Đề nghị xây dựng VBQPPL có liên quan đến TTHC là việc đề xuất xây dựng VBQPPL có chính sách liên quan đến TTHC”; “
Dự án, dự thảo VBQPPL có quy định TTHC là dự án, dự thảo VBQPPL quy định đầy đủ hoặc một, một số bộ phận tạo thành TTHC hoặc quy định bãi bỏ TTHC”.
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không đưa ra định nghĩa chính thức về các khái niệm “
thẩm định quy định TTHC trong lập đề nghị xây dựng VBQPPL” và “
thẩm định quy định TTHC trong dự án, dự thảo VBQPPL”, nên căn cứ vào quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 về kiểm soát TTHC thì “
thẩm định quy định TTHC trong lập đề nghị xây dựng VBQPPL và dự án, dự thảo VBQPPL là hoạt động đánh giá sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ TTHC của chính sách trong đề nghị xây dựng VBQPPL, dự án, dự thảo VBQPPL; cùng với nội dung thẩm định khác để đưa ra kết luận đề nghị xây dựng VBQPPL, dự án, dự thảo VBQPPL đủ hay không đủ điều kiện trình cơ quan có thẩm quyền”.
2. Quy định hiện hành về thẩm định quy định TTHC
2.1. Quy định hiện hành về thẩm định quy định TTHC đối với đề nghị xây dựng VBQPPL
Thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL là một bước trong quy trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL (thực chất là xây dựng và thông qua chính sách). Ở giai đoạn này, cơ quan lập đề nghị đã xác định được vấn đề, đánh giá tác động của chính sách, lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề, xây dựng hồ sơ đề nghị và lấy ý kiến về hồ sơ đề nghị. Việc thẩm định đề nghị (thẩm định chính sách) nhằm kiểm soát chất lượng (tiền kiểm) và xác định rõ đề nghị đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình cơ quan có thẩm quyền (Chính phủ hoặc UBND cấp tỉnh).
Theo quy định của Luật năm 2015
[2] và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP
[3], việc thẩm định đề nghị được thực hiện đối với các loại văn bản gồm: luật, pháp lệnh do Chính phủ trình; nghị quyết của Quốc hội quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 15 của Luật do Chính phủ trình; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 của Luật do Chính phủ trình; nghị định của Chính phủ quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật; nghị quyết của HĐND cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình.
Nội dung thẩm định quy định TTHC trong đề nghị xây dựng VBQPPL có liên quan đến TTHC được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 39, điểm c khoảm 3 Điều 88, khoản 4 Điều 115, trong đó tập trung vào các nội dung, gồm: sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ TTHC của chính sách trong đề nghị xây dựng VBQPPL.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Nội vụ, Ngoại giao và các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức thẩm định đề nghị xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định trước khi trình Chính phủ. Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Nội vụ và các cơ quan, tổ chức có liên quan thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh.
Riêng đối với thẩm định quy định TTHC trong lập đề nghị xây dựng VBQPPL, khoản 3 Điều 4 Thông tư số 03/2022/TT-BTP có quy định: “
Tại Bộ Tư pháp, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật có ý kiến tại cuộc họp thẩm định (trong trường hợp được mời tham gia họp thẩm định) hoặc ý kiến bằng văn bản theo yêu cầu của đơn vị thẩm định về việc đánh giá tác động của TTHC và quy định TTHC trong đề nghị xây dựng văn bản do bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì lập đề nghị. Văn phòng Bộ Tư pháp có ý kiến tại cuộc họp thẩm định (trong trường hợp được mời tham gia họp thẩm định) hoặc ý kiến bằng văn bản theo yêu cầu của đơn vị thẩm định về việc đánh giá tác động của TTHC và quy định TTHC trong đề nghị xây dựng văn bản do Bộ Tư pháp chủ trì lập đề nghị”.
Thời hạn thẩm định cũng được quy định cụ thể tại Luật năm 2015. Ví dụ như thời hạn thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ là 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Thời hạn thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
2.2. Quy định hiện hành về thẩm định quy định TTHC đối với dự án, dự thảo VBQPPL
Thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL là khâu bắt buộc trong quy trình soạn thảo VBQPPL. Theo Luật năm 2015, dự thảo VBQPPL của cấp huyện, cấp xã không phải thẩm định, còn dự thảo VBQPPL khác đều phải thực hiện thẩm định.
Nội dung thẩm định quy định TTHC tại dự án, dự thảo VBQPPL được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 58, điểm d khoản 3 Điều 92, điểm d khoản 3 Điều 98, điểm d khoản 3 Điều 102, điểm c khoản 3 Điều 130 của Luật năm 2015, gồm: sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp và chi phí tuân thủ các TTHC trong dự án, dự thảo VBQPPL.
Việc thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL từ dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trở lên do Bộ Tư pháp thực hiện có sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trước khi trình Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ. Tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ thẩm định dự thảo thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Sở Tư pháp thẩm định dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, dự thảo Quyết định của UBND cấp tỉnh.
Riêng đối với thẩm định quy định TTHC trong dự án, dự thảo VBQPPL, khoản 3 Điều 4 Thông tư số 03/2022/TT-BTP quy định: “
Tại Bộ Tư pháp, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật có ý kiến tại cuộc họp thẩm định (trong trường hợp được mời tham gia họp thẩm định) hoặc ý kiến bằng văn bản theo yêu cầu của đơn vị thẩm định về việc đánh giá tác động của TTHC và quy định TTHC trong dự án, dự thảo văn bản do bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo văn bản. Văn phòng Bộ Tư pháp có ý kiến tại cuộc họp thẩm định (trong trường hợp được mời tham gia họp thẩm định) hoặc ý kiến bằng văn bản theo yêu cầu của đơn vị thẩm định về việc đánh giá tác động của TTHC và quy định TTHC trong dự án, dự thảo văn bản do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo văn bản”.
Thời hạn tổ chức thẩm định dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định (Điều 58 Luật năm 2015); thời hạn tổ chức thẩm định nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, quyết định của UBND cấp tỉnh là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định (Điều 92, 98, 121, 130 Luật năm 2015); thời hạn tổ chức thẩm định dự thảo Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định (Điều 102 Luật năm 2015).
3. Vai trò của thẩm định quy định thủ tục hành chính
Thẩm định dự thảo VBQPPL là một khâu bắt buộc phải thực hiện trong quá trình lập đề nghị, soạn thảo, ban hành VBQPPL. Đây là cũng là khâu cuối cùng trước khi cơ quan, người có thẩm quyền chính thức xem xét, thông qua đề nghị xây dựng VBQPPL, ban hành VBQPPL theo thẩm quyền hoặc trình hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL cho cơ quan có thẩm quyền.
Với những nội dung phải thẩm định và thời điểm tiến hành thẩm định quy định trong Luật Ban hành VBQPPL như đã nêu ở trên, có thể thấy, hoạt động thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL và thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL có vai trò hết sức quan trọng đối với công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm tính đúng đắn của chính sách được đề nghị, thể hiện và cụ thể hóa các định hướng chính trị pháp lý của Đảng trong từng văn bản, quy phạm pháp luật cụ thể, bảo đảm các văn bản pháp luật đáp ứng các tiêu chí của hệ thống pháp luật về tính đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch; bảo đảm sự cân đối, đồng bộ giữa các yêu cầu về xây dựng thể chế kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, bảo vệ quyền con người.
Thẩm định quy định TTHC là một nội dung thẩm định, nhằm góp phần kiểm soát chất lượng quy định TTHC, hỗ trợ cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo kịp thời phát hiện những bất cập về TTHC trong đề nghị, dự án, dự thảo VBQPPL; giúp cơ quan, người có thẩm quyền ban hành VBQPPL có thêm thông tin trước khi quyết định ký ban hành hoặc thông qua VBQPPL có quy định TTHC, đảm bảo mục tiêu chỉ ban hành và duy trì TTHC thật sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và chi phí tuân thủ TTHC thấp nhất theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Từ đó, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội của đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, từng bước đáp ứng kỳ vọng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp về một nền hành chính chuyên nghiệp, vì dân phục vụ.
II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH QUY ĐỊNH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI BỘ TƯ PHÁP
1. Kết quả đạt được
Cơ quan lập đề nghị, chủ trì soạn thảo đã tuân thủ quy định về hồ sơ thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL có liên quan đến TTHC (
có đánh giá tác động TTHC trong Báo cáo đánh giá tác động chính sách), dự án, dự thảo VBQPPL có quy định TTHC (
có Báo cáo đánh giá tác động TTHC/Bản đánh giá TTHC) theo quy định của Luật năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Công tác thẩm định quy định TTHC trong đề nghị, dự án, dự thảo VBQPPL luôn được Bộ Tư pháp chú trọng thực hiện, bảo đảm kiểm soát chặt chẽ quy định TTHC ngay trong quá trình đề nghị xây dựng, dự thảo VBQPPL, bảo đảm chỉ ban hành những TTHC thật sự cần thiết, hợp pháp, hợp lý với chi phí tuân thủ thấp nhất theo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Kết quả thẩm định quy định TTHC từ năm 2019 - 2021 như sau:
Chất lượng ý kiến thẩm định quy định TTHC ngày càng được nâng cao; đuợc các cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo tiếp thu tại cuộc họp thẩm định, tạo cơ sở để hoàn thiện quy định TTHC trong dự thảo VBQPPL, góp phần nâng cao chất lượng quy định TTHC, chất lượng xây dựng, ban hành VBQPPL.
2. Tồn tại, hạn chế
Bên cạnh kết quả đạt được, công tác thẩm định quy định TTHC tại Bộ Tư pháp còn một số tồn tại, hạn chế sau đây:
- Về hồ sơ: vẫn còn hồ sơ gửi Bộ Tư pháp mà Báo cáo đánh giá tác động của chính sách không có nội dung đánh giá tác động TTHC; không có Bản đánh giá TTHC trong hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL. Từ đó, dẫn đến một số hồ sơ bị trả lại để hoàn thiện, bổ sung đánh giá tác động TTHC theo đúng quy định, làm ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng xây dựng VBQPPL; chất lượng đa số Bản đánh giá tác động TTHC còn hình thức, sơ sài; chưa đảm bảo theo hướng dẫn của Thông tư số 07/2014/TT-BTP (đã được thay thế bởi Thông tư số 03/2022/TT-BTP).
- Ý kiến thẩm định về sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ TTHC của chính sách trong đề nghị xây dựng VBQPPL, dự án, dự thảo VBQPPL tại một số báo cáo thẩm định còn mờ nhạt, chưa sâu sắc.
- Việc tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định về quy định TTHC của một số cơ quan lập đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo chưa thật sự thỏa đáng.
Từ đó dẫn đến thực tế là một số VBQPPL có quy định về TTHC vẫn chưa thực sự được đơn giản hóa, thậm chí rườm rà, gây phiền hà cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong thực hiện TTHC.
3. Nguyên nhân
Tồn tại, hạn chế trong công tác thẩm định quy định TTHC nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Một là, nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác thẩm định nói chung và thẩm định quy định TTHC nói riêng từ phía các bộ, cơ quan ngang bộ chưa thực sự đầy đủ, đúng đắn. Có bộ, cơ quan ngang bộ chỉ coi thẩm định là một thủ tục để hoàn chỉnh hồ sơ trình, nên chất lượng hồ sơ gửi thẩm định còn hạn chế, chưa quan tâm, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến thẩm định trong đó có ý kiến thẩm định về quy định TTHC trước khi trình Chính phủ.
Hai là, việc tiếp thu ý kiến thẩm định về quy định TTHC của Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, của các cơ quan, đơn vị tham gia thẩm định vào một số báo cáo thẩm định của đơn vị chủ trì thẩm định chưa được đầy đủ, rõ ràng.
Ba là, trong một số trường hợp ý kiến thẩm định của Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật chưa có sự phối hợp của Phòng Đánh giá tác động TTHC và Tổng hợp dẫn đến ý kiến thẩm định về TTHC còn mờ nhạt, chỉ mới dừng lại ở nhận định về hồ sơ thẩm định có hay không có Bản đánh giá TTHC.
Bốn là, số lượng đề nghị, dự án, dự thảo VBQPPL thẩm định rất lớn, trong khi chuyên viên về kiểm soát TTHC ngày càng giảm, đồng thời phải thực hiện nhiều công việc chuyên môn khác, từ đó đã tạo áp lực lớn cho công tác thẩm định về nội dung này.
II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG THỜI GIAN TỚI
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, đồng thời nâng cao hơn nữa chất lượng thẩm định quy định TTHC trong đề nghị xây dựng VBQPPL và dự án, dự thảo VBQPPL trong thời gian tới, tôi xin đề xuất một số giải pháp sau đây:
1. Giải pháp về nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong công tác thẩm định
- Các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định của Luật năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Thông tư số 03/2022/TT-BTP; đặc biệt là các quy định về trách nhiệm, nhiệm vụ của các cơ quan chủ trì lập đề nghị xây dựng VBQPPL, cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL và cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp trong việc thẩm định các đề nghị và dự án, dự thảo VBQPPL.
- Bộ Tư pháp tiếp tục quán triệt cho tất cả các đơn vị và công chức thuộc Bộ về tầm quan trọng của hoạt động thẩm định trong công tác xây dựng pháp luật, xác định đó là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Tư pháp.
2. Giải pháp về nâng cao năng lực của công chức trong thẩm định
- Bổ sung đủ công chức có kinh nghiệm, chuyên môn về kiểm soát TTHC để làm công tác thẩm định quy định TTHC.
- Thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng (kỹ năng soạn thảo, đánh giá tác động chính sách, đánh giá tác động TTHC, thẩm định quy định TTHC…), kiến thức pháp luật theo lĩnh vực cho đội ngũ công chức thẩm định nói chung và công chức thẩm định quy định TTHC nói riêng để báo cáo thẩm định có sự thuyết phục về tính hợp lý, tính khả thi, tính dự báo chính sách, quy định của dự án, dự thảo văn bản được thẩm định, trong đó nội dung thẩm định về sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ TTHC được đánh giá cụ thể, rõ ràng.
3. Giải pháp về nâng cao chất lượng thẩm định
3.1. Đối với các bộ, cơ quan ngang bộ
- Tuân thủ hồ sơ thẩm định theo quy định Luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Thông tư số 03/2022/TT-BTP, cụ thể là:
+ Hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL có liên quan đến TTHC gửi Bộ Tư pháp thẩm định, trong Báo cáo đánh giá tác động của chính sách phải có Biểu mẫu đánh giá tác động của TTHC trong lập đề nghị xây dựng VBQPPL tại Phụ lục I kèm theo Thông tư số 03/2022/TT-BTP đối với chính sách phát sinh TTHC được đóng dấu treo theo quy định.
+ Hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL có quy định TTHC gửi Bộ Tư pháp thẩm định cần phải có: Bản đánh giá TTHC theo mẫu số 01 Phụ lục II và các biểu mẫu kèm theo Thông tư số 03/2022/TT-BTP phải được ký, đóng dấu hoặc đóng dấu treo theo quy định.
- Tăng cường vai trò của Pháp chế trong quá trình bộ, cơ quan ngang bộ lập đề nghị xây dựng VBQPPL và soạn thảo dự án, dự thảo VBQPPL theo hướng trước khi gửi hồ sơ để thẩm định, đơn vị của bộ, cơ quan ngang bộ được giao chủ trì lập đề nghị xây dựng văn bản hoặc soạn thảo văn bản phải lấy ý kiến bằng văn bản của Vụ Pháp chế.
- Cơ quan lập đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL phải nghiêm túc tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và gửi Báo cáo tiếp thu, giải trình theo đúng quy định của Luật năm 2015.
3.1. Đối với Bộ Tư pháp
- Tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm túc Luật năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Thông tư số 03/2022/TT-BTP; Quyết định số 2410/QĐ-BTP ngày 28/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL và dự án, dự thảo VBQPPL.
- Tuân thủ quy định về thời gian thẩm định theo quy định, tránh việc tổ chức thẩm định gấp, ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định.
- Các đơn vị được giao chủ trì thẩm định không tiếp nhận hồ sơ gửi thẩm định nếu hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL và dự án, dự thảo VBQPPL có quy định về TTHC chưa có bản đánh giá TTHC theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 về kiểm soát TTHC (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2017) và Thông tư số 03/2022/TT-BTP.
- Tiếp tục tổ chức các cuộc họp tham vấn quy định TTHC trước khi tổ chức thẩm định để nâng cao chất lượng ý kiến thẩm định về quy định TTHC hoặc tổ chức các cuộc họp tham vấn sau khi tổ chức thẩm định để làm rõ thêm các vấn đề phức tạp, còn có ý kiến khác nhau.
- Tại Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, trong quá trình thẩm định cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng trong Vụ với Phòng Đánh giá tác động TTHC và Tổng hợp để nâng cao chất lượng thẩm định nói chung và thẩm định quy định TTHC nói riêng.
- Tiếp tục nâng cao chất lượng các cuộc họp của Hội đồng thẩm định và Hội đồng tư vấn thẩm định. Đăng tải công khai các báo cáo thẩm định trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
- Sau khi thẩm định, các đơn vị phải cần bám sát giai đoạn trình để bảo đảm các cơ quan chủ trì tiếp thu hoặc có giải trình giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp nói chung và ý kiến thẩm định quy định TTHC nói riêng.
Mong rằng với những giải pháp đồng bộ nêu trên, chất lượng thẩm định quy định TTHC trong thời gian tới sẽ tiếp tục được nâng cao, góp phần bảo đảm ban hành thật sự cần thiết, hợp pháp, hợp lý và chi phí tuân thủ TTHC là thấp nhất theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.