Quy trình thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp thực hiện – Một vài đánh giá và đề xuất, kiến nghị
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

Quy trình thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp thực hiện – Một vài đánh giá và đề xuất, kiến nghị

Có những quan điểm đánh giá chất lượng thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) thông qua chất lượng các báo cáo thẩm định. Tác giả cho rằng quan điểm này là chưa thực sự chính xác và toàn diện. Chúng ta đều biết thẩm định chỉ là một khâu trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL nhưng hoạt động thẩm định cũng có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, được phân công, phân nhiệm rõ ràng và được thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ. Do vậy, chất lượng thẩm định cần được đánh giá toàn diện trên cơ sở chất lượng của từng bước trong quy trình từ tiếp nhận hồ sơ cho đến xây dựng báo cáo thẩm định, quá trình theo dõi sau thẩm định và thậm chí nếu nói xa hơn nữa thì tính từ khi cán bộ được phân công thẩm định tham gia vào quá trình soạn thảo của cơ quan chủ trì soạn thảo.
Nội dung Bài viết tiếp cận ở góc độ đánh giá quy trình thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL do Bộ Tư pháp thực hiện, gồm dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị quyết liên tịch có sự tham gia của Chính phủ, nghị định của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
1. Quy định của pháp luật hiện hành về quy trình thẩm định đề nghị xây dựng và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Căn cứ quy định của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Quyết định số 2410/QĐ-BTP ngày 27/11/2017 của Bộ Tư pháp về thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL, dự án, dự thảo VBQPPL (Quyết định số 2410/QĐ-BTP), có thể khái quát quy trình thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL do Bộ Tư pháp thực hiện gồm các bước sau đây:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ thẩm định
(1) Bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm:
- Gửi hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL đến Bộ Tư pháp để thẩm định. Hồ sơ gồm: (i) Tờ trình Chính phủ/Thủ tướng Chính phủ; (ii) Dự thảo văn bản; (iii) Bản đánh giá thủ tục hành chính, nếu trong dự án, dự thảo văn bản có quy định thủ tục hành chính; (iv) Báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nếu trong dự án, dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới; (v) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý; (vi) các tài liệu khác (nếu có).
- Bổ sung hồ sơ trong thời hạn chậm nhất là 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Bộ Tư pháp.
 (2) Bộ Tư pháp (Văn phòng Bộ) có trách nhiệm:
- Tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ. Trường hợp hồ sơ dự án, dự thảo không đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều 58, khoản 2 Điều 92, khoản 2 Điều 98, khoản 4 Điều 109 của Luật thì chậm nhất là 01 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Bộ Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo bổ sung hồ sơ.
- Ngay sau khi nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định, Văn phòng Bộ có trách nhiệm chuyển hồ sơ gửi thẩm định đến đơn vị được giao chủ trì thẩm định, đồng thời chuyển đến Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng phụ trách để theo dõi, chỉ đạo.

Bước 2: Chuẩn bị thẩm định

Bộ Tư pháp (đơn vị chủ trì thẩm định) có trách nhiệm:
- Tổ chức nghiên cứu hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL. Trường hợp cần thiết, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình hoặc cung cấp thêm thông tin, tài liệu có liên quan hoặc tổ chức hội thảo, tọa đàm về dự án, dự thảo VBQPPL.
- Chuẩn bị thẩm định theo một trong hai hình thức sau:
(i) Thành lập Hội đồng thẩm định đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo.
Đơn vị chủ trì thẩm định đề xuất thành lập Hội đồng thẩm định (dự kiến số lượng, thành phần Hội đồng), báo cáo lãnh đạo Bộ Tư pháp quyết định. Chậm nhất là 05 ngày làm việc, trước ngày tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định, Bộ Tư pháp gửi giấy mời và hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL đến các thành viên Hội đồng.
(ii) Tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, dự thảo nghị quyết liên tịch có nội dung không phức tạp, không liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.
Đơn vị được giao chủ trì thẩm định tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định trong thời hạn chậm chất là 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định; gửi giấy mời và hồ sơ dự án, dự thảo đến đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan; các chuyên gia, nhà khoa học tham dự cuộc họp.
Bước 3: Tổ chức thẩm định
(1) Thẩm định theo hình thức thành lập Hội đồng thẩm định:
Cuộc họp chỉ được tiến hành trong trường hợp có mặt ít nhất 2/3 tổng số thành viên của Hội đồng. Trường hợp không thể tham dự, thành viên vắng mặt phải gửi Chủ tịch Hội đồng ý kiến thẩm định bằng văn bản.
Cuộc họp của Hội đồng được tiến hành theo trình tự sau đây:
- Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo trình bày sự cần thiết ban hành, quá trình soạn thảo và những nội dung cơ bản của dự án, dự thảo VBQPPL;
- Đại diện đơn vị được giao chủ trì thẩm định có thể cung cấp thông tin liên quan đến dự án, dự thảo VBQPPL; các thành viên Hội đồng đặt câu hỏi để làm rõ những nội dung của dự án, dự thảo VBQPPL;
- Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo giải đáp các câu hỏi của thành viên Hội đồng (nếu có);
- Thành viên Hội đồng phát biểu ý kiến thẩm định về các nội dung theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL. Đối với thành viên vắng mặt, Thư ký Hội đồng có trách nhiệm đọc ý kiến thẩm định của thành viên đó;
- Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo phát biểu ý kiến tiếp thu, giải trình;
- Chủ tịch Hội đồng kết luận và nêu rõ ý kiến của Hội đồng về việc dự án, dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
(2) Thẩm định theo hình thức tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định:
Cuộc họp tư vấn thẩm định tiến hành theo trình tự sau đây:
- Chủ tọa cuộc họp chỉ định một công chức của đơn vị chủ trì thẩm định làm thư ký cuộc họp;
- Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo trình bày sự cần thiết ban hành, quá trình soạn thảo và những nội dung cơ bản của dự án, dự thảo VBQPPL;
- Các thành viên tham dự cuộc họp phát biểu ý kiến thẩm định về các nội dung theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL;
- Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo phát biểu ý kiến tiếp thu, giải trình;
- Chủ tọa kết luận và nêu rõ ý kiến về việc dự án, dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Bước 4: Xây dựng báo cáo thẩm định
- Trường hợp tổ chức Hội đồng thẩm định: trên cơ sở biên bản cuộc họp của Hội đồng, ý kiến kết luận của Chủ tịch Hội đồng, kết quả nghiên cứu hồ sơ dự án, dự thảo văn bản, đơn vị được giao chủ trì thẩm định chuẩn bị dự thảo báo cáo thẩm định trình Lãnh đạo Bộ Tư pháp xem xét, ký ban hành.
- Trường hợp tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định: trên cơ sở biên bản cuộc họp tư vấn thẩm định, kết luận của chủ tọa cuộc họp, kết quả nghiên cứu hồ sơ dự án, dự thảo văn bản, ý kiến tham gia bằng văn bản của đại diện các đơn vị có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học tham dự cuộc họp (nếu có), đơn vị được giao chủ trì thẩm định chuẩn bị dự thảo báo cáo thẩm định trình Lãnh đạo Bộ Tư pháp xem xét, ký ban hành.
Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về những nội dung thẩm định theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL và ý kiến về việc dự án, dự thảo VBQPPL đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Bước 5: Gửi báo cáo thẩm định và việc tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định
(1) Bộ Tư pháp có trách nhiệm: gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời hạn chậm nhất là 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình; chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đối với dự thảo nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
(2) Bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm: nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định và gửi báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định kèm theo hồ sơ dự án, dự thảo đã được chỉnh lý đến Bộ Tư pháp khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Bước 6: Theo dõi, xử lý các vấn đề phát sinh sau thẩm định
- Đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (trong trường hợp cần đăng tải và theo sự chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ).
- Theo dõi, xử lý các vấn đề liên quan đến nội dung báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định của cơ quan chủ trì soạn thảo.
- Theo dõi, chuẩn bị ý kiến tham mưu cho Bộ trưởng giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của Chính phủ, gồm: trả lời Phiếu lấy ý kiến Thành viên Chính phủ, chuẩn bị ý kiến của Bộ Tư pháp về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định của cơ quan chủ trì soạn thảo để trình bày tại phiên họp Chính phủ.
2. Thực trạng việc thực hiện quy trình thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL do Bộ Tư pháp thực hiện
Kể từ khi Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 có hiệu lực thi hành, trung bình mỗi năm, Bộ Tư pháp tổ chức thẩm định khoảng gần 300 đề nghị xây dựng VBQPPL và dự án, dự thảo VBQPPL. Từ năm 2021 đến nay, số lượng văn bản Bộ Tư pháp chủ trì thẩm định có xu hướng giảm, do không thẩm định đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ tại khoản 2 Điều 19 Luật Ban hành VBQPPL. Tuy nhiên, nhiều văn bản gửi thẩm định có nội dung phức tạp, điều chỉnh những quan hệ xã hội mới phát sinh, chưa có tiền lệ. Do vậy, áp lực đối với các đơn vị thuộc Bộ được giao chủ trì soạn thảo mà trực tiếp là đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định trong việc bảo đảm các ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp được toàn diện, sâu sắc và khách quan.
Để giúp có được những văn bản thẩm định tốt, thời gian qua, Bộ Tư pháp đã chú trọng thực hiện nghiêm quy định của Luật Ban hành VBQPPL ngay từ giai đoạn tiếp nhận hồ sơ gửi thẩm định, chuẩn bị thẩm định đến việc tổ chức các cuộc họp thẩm định, xây dựng báo cáo thẩm định và theo dõi sát những vấn đề phát sinh sau thẩm định. Có thể dẫn ra một số kết quả như sau:
- Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ dự án, dự thảo gửi thẩm định theo đúng quy định của Luật Ban hành VBQPPL; kịp thời thông báo và đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo bổ sung hồ sơ trong trường hợp hồ sơ không đáp ứng yêu cầu.
- Việc đề xuất thành lập Hội đồng thẩm định được thực hiện khẩn trương, đúng thời hạn quy định, nhìn chung, thành phần Hội đồng thẩm định bảo đảm có sự tham gia của các bộ, ngành, tổ chức có liên quan, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các chuyên gia, nhà khoa học, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản.
- Trình tự cuộc họp thẩm định được các đơn vị chủ trì thẩm định tuân thủ nghiêm quy định tại Quyết định số 2410/QĐ-BTP. Các cuộc họp của Hội đồng đều bảo đảm tính hợp lệ về số lượng thành viên, tức là chỉ được tiến hành trong trường hợp có mặt ít nhất 2/3 tổng số thành viên Hội đồng. Tuy nhiên, trước bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp vào những tháng cuối năm 2020 và đầu năm 2021, trong một số trường hợp, để tránh các cuộc họp tập trung đông người, thay vì việc tổ chức họp Hội đồng thẩm định, cuộc họp tư vấn thẩm định… bằng hình thức trực tiếp, Bộ Tư pháp đã gửi hồ sơ dự án, dự thảo để các cơ quan, đơn vị, cá nhân nghiên cứu, cho ý kiến thẩm định bằng văn bản.
- Việc chuẩn bị báo cáo thẩm định cơ bản bảo đảm đúng thời hạn theo quy định; nội dung báo cáo bảo đảm tính khách quan và bám sát nội dung thẩm định theo Luật Ban hành VBQPPL.
- Việc theo dõi, đánh giá các nội dung tiếp thu, giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo đối với ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp ngày càng được các đơn vị của Bộ quan tâm, chú trọng thực hiện một cách nghiêm túc.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện quy trình thẩm định còn một số hạn chế cả từ phía các đơn vị được giao chủ trì thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan, tổ chức được đề nghị tham gia thẩm định
Về phía cơ quan chủ trì soạn thảo – chủ thể cung cấp đầu vào cho hoạt động thẩm định
- Một số hồ sơ gửi thẩm định còn sơ sài, thành phần hồ sơ không đầy đủ, chất lượng chưa đáp ứng theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL (Tờ trình dự án, dự thảo chưa đúng mẫu quy định, chưa đánh giá sự tương thích của dự thảo với các điều ước quốc tế, chưa dự kiến cụ thể nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành văn bản; Báo cáo đánh giá tác động của chính sách chưa nêu rõ, nêu đúng tên chính sách; Báo cáo rà soát các VBQPPL có liên quan đến dự án, dự thảo mới liệt kê các VBQPPL có liên quan mà chưa có nội dung đánh giá, nhận xét và đề xuất hướng xử lý…); thể thức một số tài liệu trong hồ sơ gửi thẩm định chưa đúng quy định (Tờ trình dự án, dự thảo, Báo cáo đánh giá tác động của chính sách không được ký, đóng dấu…); có trường hợp gửi hồ sơ muộn nên không bảo đảm được khoảng thời gian cần thiết để cơ quan thẩm định và các cơ quan tham gia thẩm định nghiên cứu kỹ lưỡng, toàn diện hồ sơ dự án, dự thảo.
- Việc tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định trong và sau cuộc họp thẩm định nhiều trường hợp chưa được thực hiện triệt để; một số nội dung không tiếp thu nhưng chưa được giải trình cặn kẽ, thấu đáo.
Về phía đơn vị chủ trì thẩm định
- Tiến độ thẩm định một số dự án, dự thảo còn chậm, nhất là khâu chuẩn bị, trình Lãnh đạo Bộ xem xét, ký báo cáo thẩm định, bên cạnh đó, việc gửi tài liệu thẩm định cho thành viên hội đồng đôi khi chưa bảo đảm thời hạn quy định.
- Việc tổ chức thẩm định trong một số trường hợp còn chưa thực sự chuyên nghiệp nên chi phí thời gian, sức lao động còn lớn.
- Việc bảo đảm sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học vào hoạt động thẩm định vẫn còn nhiều hạn chế. Một số trường hợp, cơ quan được giao chủ trì thẩm định xác định số lượng và thành phần Hội đồng thẩm định chưa thực sự hợp lý (quá đông thành viên hoặc thiếu đại diện các cơ quan có liên quan đến những nội dung quan trọng của dự án, dự thảo…).
- Ngoài việc cử đại diện tham gia Ban soạn thảo, Tổ biên tập dự án, dự thảo VBQPPL, trong quá trình tổ chức thẩm định, đơn vị chủ trì thẩm định rất ít khi yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến dự án, dự thảo văn bản được thẩm định và thuyết trình về vấn đề đó hoặc đề xuất tổ chức lấy ý kiến chuyên gia, hội thảo, tọa đàm về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo văn bản.
- Một số báo cáo thẩm định có nhiều nội dung mang tính chất góp ý, chưa bám sát nội dung thẩm định của Luật Ban hành VBQPPL.
- Đơn vị chủ trì thẩm định chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm gửi báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định đến Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật và các đơn vị đã tham gia phối hợp thẩm định. Trong một số trường hợp, khi phát hiện nội dung báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo văn bản chưa hợp lý, thuyết phục; việc chỉnh lý theo báo cáo thẩm định chưa được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, đơn vị chủ trì thẩm định chưa kịp thời báo cáo Lãnh đạo Bộ tổ chức cuộc họp với đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo để trao đổi về nội dung vấn đề được phát hiện.
Về phía các cơ quan, tổ chức tham gia thẩm định
- Nhiều trường hợp, mặc dù Bộ Tư pháp đã gửi giấy mời và hồ sơ dự án, dự thảo trước ngày thẩm định theo đúng quy định, bảo đảm khoảng thời gian hợp lý để các thành viên Hội đồng nghiên cứu hồ sơ, tài liệu nhưng vẫn khó bảo đảm sự đầy đủ của Hội đồng thẩm định. Những trường hợp thành viên Hội đồng không thể tham gia cuộc họp của Hội đồng thì hầu hết cũng không ủy quyền cho người khác thay mình trình bày ý kiến thẩm định hoặc gửi Chủ tịch Hội đồng ý kiến thẩm định bằng văn bản.
- Một số cơ quan được đề nghị phối hợp tham gia thẩm định cử cán bộ chưa đúng yêu cầu, chẳng hạn như: cử cán bộ có ít kinh nghiệm xây dựng văn bản hoặc có trình độ chuyên môn chưa phù hợp với nội dung của VBQPPL nên ý kiến thẩm định chưa toàn diện, chưa sâu sắc.
- Các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp tham gia phối hợp thẩm định hầu như chưa thực hiện hết trách nhiệm của mình trong việc chuẩn bị ý kiến thẩm định bằng văn bản, gửi Hội đồng thẩm định/ đơn vị chủ trì thẩm định và theo dõi, có ý kiến về việc tổng hợp ý kiến đã tham gia trong báo cáo thẩm định của đơn vị chủ trì thẩm định.
Tồn tại, hạn chế trong quy trình thẩm định xuất phát từ một số nguyên nhân sau đây:
- Nhận thức về ý nghĩa, vai trò của hoạt động thẩm định từ phía cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan tham gia thẩm định và đơn vị chủ trì thẩm định còn chưa thật đầy đủ, chưa đúng bản chất, yêu cầu của hoạt động thẩm định, đây là nguyên nhân của việc gửi hồ sơ không đầy đủ, nội dung sơ sài; cử người tham dự không đúng thành phần, chuyên môn hoặc nội dung thẩm định mang tính chất góp ý…
- Một số bộ, cơ quan ngang bộ tuân thủ chưa nghiêm túc các quy định của Luật Ban hành VBQPPL về thẩm định, chưa thực hiện đúng kế hoạch xây dựng VBQPPL do cơ quan mình đã đề ra, đặc biệt là việc cơ quan chủ trì soạn thảo kéo dài thời gian soạn thảo nên đã làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các công việc tiếp theo, đây là một trong những nguyên nhân của việc cơ quan chủ trì soạn thảo chậm gửi hồ sơ thẩm định.
- Chưa có cơ chế xem xét, xử lý trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia cuộc họp thẩm định mà chưa thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm của mình. Đối với các thành phần bắt buộc tham gia là Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại Giao, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì cũng chưa xác định rõ trách nhiệm của đại diện các cơ quan này khi tham gia Hội đồng so với các thành viên khác của Hội đồng.
- Đội ngũ công chức làm công tác thẩm định của Bộ Tư pháp còn mỏng, nhiều công chức trẻ nên chưa có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động thẩm định.
- Điều kiện bảo đảm cho công tác thẩm định như kinh phí thẩm định, phòng họp, máy tính, máy ghi âm, văn phòng phẩm… chưa đáp ứng được yêu cầu.
3. Một số đề xuất, kiến nghị
Trong thời gian tới, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị như sau:
Đầu tiên là vấn đề con người – nói cho cùng, chính là vấn đề liên quan đến nhận thức, trách nhiệm và năng lực của những người có thẩm quyền, có trách nhiệm khi tham gia vào hoạt động thẩm định. Do vậy, Bộ Tư pháp cùng với các bộ, cơ quan ngang bộ cần thường xuyên quán triệt, tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ làm công tác soạn thảo, thẩm định của bộ, ngành mình về tính chất và tầm quan trọng của hoạt động thẩm định và kiến thức, phương pháp và kỹ năng thẩm định. Nhưng quan trọng hơn hết là chính các công chức làm công tác thẩm định cần phải tự mình cập nhật kiến thức, quy định về lĩnh vực mà mình được giao phụ trách, trau dồi kỹ năng thẩm định để ngày càng làm tốt hơn nhiệm vụ này.
Tiếp theo là vấn đề về cách thức tổ chức thẩm định
Đối với Bộ Tư pháp:
- Tiếp tục phát huy hình thức thẩm định bằng hội đồng thẩm định; huy động sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý; ý kiến phản biện của các tổ chức xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng đối với dự án, dự thảo VBQPPL; tổ chức hội thảo, tọa đàm, các hoạt động nghiên cứu trước khi tổ chức thẩm định để làm rõ thêm các vấn đề phức tạp, còn có ý kiến khác nhau.
- Công chức của Bộ Tư pháp được giao theo dõi dự án, dự thảo văn bản cần bám sát ngay từ đầu để nắm bắt được nội dung cơ bản của dự án, dự thảo, các vấn đề phát sinh còn có ý kiến khác nhau và quan điểm của đơn vị chủ trì và các đơn vị có liên quan về các vấn đề đó.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức họp thẩm định, trong việc đăng tải, lưu trữ hồ sơ, tài liệu họp thẩm định; báo cáo thẩm định, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.
- Nghiên cứu, xây dựng quy trình ISO về thẩm định VBQPPL của Bộ Tư pháp, trong đó xác định rõ các bước, yêu cầu về thời hạn thực hiện và sản phẩm của từng bước.
 Đối với cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan, tổ chức tham gia thẩm định:
- Đơn vị được giao chủ trì soạn thảo trước khi gửi hồ sơ để thẩm định phải lấy ý kiến bằng văn bản của Vụ Pháp chế.
- Hồ sơ dự án, dự thảo văn bản gửi Bộ Tư pháp thẩm định cần bảo đảm đủ thành phần, thể thức theo quy định, các tài liệu cần ký, đóng dấu thì phải ký, đóng dấu.
- Khi cử người tham gia cuộc họp thẩm định cần lựa chọn, cử những cán bộ có chuyên môn sâu về lĩnh vực liên quan đến nội dung dự án, dự thảo VBQPPL. Trường hợp cán bộ được cử không thể tham gia cuộc họp Hội đồng thì có thể ủy quyền cho người khác thay mình trình bày ý kiến thẩm định hoặc gửi ý kiến thẩm định bằng văn bản theo đúng quy định.
Cuối cùng là việc theo dõi, xử lý các vấn đề sau thẩm định và lưu trữ hồ sơ thẩm định
- Khi nhận được báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định, đơn vị đã chủ trì tổ chức thẩm định gửi bản sao hoặc bản điện tử báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định đến Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Cục Công nghệ thông tin (trong trường hợp cần đăng tải).
- Đơn vị đã chủ trì thẩm định cần tiếp tục bám sát việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định của cơ quan chủ trì soạn thảo. Trường hợp phát hiện nội dung báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo văn bản chưa hợp lý, thuyết phục hoặc việc chỉnh lý theo báo cáo thẩm định chưa được thực hiện, thực hiện không đầy đủ thì kịp thời báo cáo và đề nghị Lãnh đạo Bộ tổ chức cuộc họp với đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo và đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan để trao đổi, thống nhất ý kiến về nội dung vấn đề được phát hiện.
- Bảo đảm phối hợp chặt chẽ, kịp thời giữa đơn vị được giao chủ trì thẩm định với các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tư pháp trong việc nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến tham mưu cho Bộ trưởng trả lời Phiếu lấy ý kiến Thành viên Chính phủ hoặc chuẩn bị ý kiến của Bộ Tư pháp về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định của cơ quan chủ trì soạn thảo để trình bày tại phiên họp Chính phủ.
Trần Việt Đức, Phòng Công tác XDPL, Vụ VĐCXDPL