Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được Đảng, Quốc hội, Chính phủ quan tâm, xác định là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển đất nước. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, cần nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
Nghiên cứu những tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể thấy, trong suốt quá trình chỉ đạo cách mạng, trên cương vị người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm mục tiêu quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Bài viết này tập trung phân tích vài nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật - nhìn từ góc độ của hoạt động quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật và đề xuất những định hướng lớn trong công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật.
1. Vài nét về tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực tiễn vận dụng những tư tưởng này vào công tác tham mưu xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
1.1. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao tầm quan trọng của Hiến pháp và các đạo luật trong quản lý nhà nước và xã hội
Ngay từ năm 1919, trong bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi tới Hội nghị Versaile, Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải
“thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”. Đến năm 1922, Người đã khái quát, thể hiện quan điểm của mình trong bài “Việt Nam yêu cầu ca”:
“Bảy xin Hiến pháp ban hành/Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”, thể hiện rõ ý thức đề cao, khẳng định vị trí, tầm quan trọng của Hiến pháp và các đạo luật trong đời sống của một dân tộc, một xã hội. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, Quốc hội đã ban hành một số đạo luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để chính quyền các cấp tổ chức bộ máy và tổ chức đời sống của Nhân dân, xây dựng miền Bắc vững mạnh và làm cơ sở cho cuộc đấu tranh giành lại hòa bình, thống nhất đất nước ở miền Nam.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa những thành tựu lập pháp của đất nước, kể từ khi thống nhất đất nước đến nay, Nhà nước ta đã ban hành 03 bản Hiến pháp mới bao gồm: Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013. Cùng với đó, Nhà nước ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật cơ bản đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, tạo hành lang pháp lý để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó các đạo luật giữ vị trí, vai trò trung tâm và đặc biệt quan trọng.
Đồng thời, để lên kế hoạch, định hướng và tạo sự ổn định, chủ động trong hoạt động lập pháp của Quốc hội, thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), hằng năm, Bộ Tư pháp đều tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Đặc biệt, trong năm 2021, Ban cán sự đảng Bộ Tư pháp đã xây dựng trình Ban cán sự đảng Chính phủ ban hành Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XV với mục tiêu hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tạo lập khung khổ pháp lý để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025; xác định rõ những lĩnh vực cần ưu tiên hoàn thiện hệ thống pháp luật, tập trung thể chế hóa kịp thời, đầy đủ, đồng bộ các chủ trương, đường lối được xác định tại các văn kiện Đại hội XIII.
1.2. Trong quá trình lãnh đạo công tác xây dựng pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm việc xác lập rõ quy trình và trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào hoạt động quan trọng này
Qua một số văn bản được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày liên quan đến xây dựng một số văn bản luật đã cho thấy yêu cầu về quy trình xây dựng pháp luật. Hiến pháp năm 1959 được xây dựng theo quy trình: (1) Từ nhu cầu thực tiễn, Quốc hội quyết định tiến hành “sửa đổi Hiến pháp”; (2) Quốc hội thành lập “Ban sửa đổi Hiến pháp”; (3) Ban sửa đổi Hiến pháp dự thảo, lấy ý kiến và hoàn chỉnh trình Quốc hội; (4) Quốc hội thảo luận, điều chỉnh và thông qua Hiến pháp; (5) Chủ tịch nước ký lệnh ban hành Hiến pháp.
Trong quy trình nêu trên, Hồ Chí Minh đặt trọng tâm vào vai trò, trách nhiệm của “Ban sửa đổi Hiến pháp” trong quá trình dự thảo, lấy ý kiến và hoàn chỉnh dự thảo bản Hiến pháp. Đối với Ban sửa đổi hai bản Hiến pháp năm 1946 và 1959, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh:
“Đó là một nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang” và
“Đó là một công tác đòi hỏi khá nhiều ngày giờ và đòi hỏi một sự cố gắng đặc biệt của toàn Ban và của mỗi một ủy viên”[1]. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng quán triệt rõ tinh thần trách nhiệm của cá nhân và tập thể tham gia trong quá trình xây dựng pháp luật.
Quán triệt tư tưởng của Hồ Chí Minh, từ năm 1996 đến nay, Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật điều chỉnh về công tác xây dựng, ban hành VBQPPL với quy trình xây dựng, ban hành các VBQPPL ngày càng hoàn thiện, hợp lý, chặt chẽ hơn, trong đó quy định rõ trách nhiệm, sự tham gia và sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức cá nhân trong quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL. Năm 2015, Bộ Tư pháp đã chủ trì tham mưu cho Chính phủ, trình Quốc hội thông qua Luật Ban hành VBQPPL với nhiều đổi mới quan trọng (như: quy định quy trình xây dựng chính sách trước quy trình soạn thảo VBQPPL; quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ giai đoạn lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, góp ý đến ban hành VBQPPL…), qua đó từng bước khắc phục được những hạn chế và nâng cao tính kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng pháp luật, góp phần vào những kết quả chung của công tác xây dựng pháp luật.
1.3. Nguyên tắc dân chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo xây dựng pháp luật
Với tư cách là người đứng đầu Đảng, đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của Nhân dân với vị trí là chủ thể của quyền lực nhà nước. Vì thế, Người luôn chú trọng tạo mọi điều kiện tốt nhất để Nhân dân tham gia vào hoạt động của nhà nước nói chung và hoạt động xây dựng pháp luật nói riêng. Trong Báo cáo công tác của Ban sửa đổi Hiến pháp tại Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khóa 1 kỳ họp thứ 8, Người nhấn mạnh:
“Nhờ sự cố gắng của Ban thư ký và sự tận tụy của anh chị em cán bộ, chúng tôi đã hoàn thành bước đầu bản sơ thảo Hiến pháp sửa đổi. Sau khóa họp Quốc hội này, chúng tôi sẽ chuyển sang bước thứ hai là trưng cầu ý kiến của nhân dân, mà trước tiên là ý kiến của các chính đảng, các đoàn thể nhân dân và các cơ quan”[2].
Như vậy, nguyên tắc dân chủ được Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ, việc thảo luận dân chủ được diễn ra trong toàn bộ quá trình xây dựng hai bản Hiến pháp năm 1946 và năm 1959. Bên cạnh đó, thành phần Ban dự thảo Hiến pháp cũng cho thấy sự dân chủ trong xây dựng văn bản luật gốc của một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Nhìn chung, các Luật Ban hành VBQPPL và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Ban hành VBQPPL ngày càng có nhiều quy định cụ thể, rõ ràng nhằm bảo đảm tốt hơn yêu cầu công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL - một yêu cầu không thể thiếu để phát huy tính dân chủ trong công tác xây dựng pháp luật. Thực tiễn xây dựng pháp pháp luật của chúng ta trong những năm vừa qua đã chú trọng nguyên tắc này. Các dự án luật, đặc biệt là các dự án quan trọng tác động đến số đông các tầng lớp nhân dân, ảnh hưởng lớn đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đều được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan tổ chức, các đoàn thể quần chúng và các tầng lớp nhân dân. Việc quy định cụ thể nhiệm vụ, thành phần của Ban soạn thảo giúp huy động tối đa trí tuệ tập thể thông qua việc bảo đảm sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực thi VBQPPL và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của VBQPPL và hạn chế tư duy chủ quan, duy ý chí của cơ quan chủ trì soạn thảo.
1.4. Việc đề nghị sửa đổi, bổ sung, ban hành mới VBQPPL phải được nghiên cứu kỹ cả về cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận, bảo đảm tính kế thừa và phát triển cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý trong quá trình lãnh đạo xây dựng pháp luật
Về thực tiễn, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải nghiên cứu tình hình đất nước để VBQPPL phản ánh đúng đắn, phù hợp. Về lý luận, Hồ Chí Minh yêu cầu nghiên cứu văn bản được ban hành trước đó và các văn bản có liên quan của các nước khác. Khai mạc phiên họp đầu tiên của Ban sửa đổi Hiến pháp, Hồ Chí Minh nói:
“Chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ tình hình của nước ta, nghiên cứu lại bản Hiến pháp 1946, phải tham khảo Hiến pháp của các nước bạn và của một số nước tư bản có tính chất điển hình”[3].
Mặt khác, trong quá trình lãnh đạo xây dựng pháp luật, Hồ Chí Minh giải quyết rất “khéo” mối quan hệ giữa nhu cầu xây dựng văn bản luật mới với yêu cầu phải kế thừa, phát huy giá trị của văn bản luật hiện hành. Theo đó, Hồ Chí Minh không phê phán quy định của văn bản hiện hành mà tập trung chỉ ra sự không phù hợp của những quy định này với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Vận dụng tư tưởng này, Luật Ban hành VBQPPL yêu cầu khi đề nghị xây dựng VBQPPL, nhất là đề nghị xây dựng luật, các bộ, ngành phải tiến hành tổng kết thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội có liên quan để chỉ rõ những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thi hành văn bản; tổ chức nghiên cứu khoa học, thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế để củng cố cơ sở lý luận và hỗ trợ cho việc lập đề nghị xây dựng văn bản
[4]. Kết quả của các hoạt động này là đầu vào quan trọng và không thể thiếu giúp cơ quan lập đề nghị xác định đúng các vấn đề cần giải quyết, nguyên nhân của từng vấn đề cũng như các định hướng, giải pháp để giải quyết từng vấn đề.
2. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Để tiếp tục vận dụng sáng tạo và có hiệu quả những giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng pháp luật và tăng cương hiệu quả thi hành pháp luật trong thời gian tới ở nước ta, tác giả xin có một số đề xuất sau đây:
Một là, cần bám sát nội dung, yêu cầu thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và yêu cầu thực tiễn để chủ động đề xuất Chính phủ, Quốc hội về các lĩnh vực pháp luật cần ưu tiên, tập trung nguồn lực sửa đổi, bổ sung, ban hành mới theo đúng tư tưởng về xây dựng pháp luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Hai là, thực hiện nghiêm của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2020, đồng thời chú trọng nghiên cứu, đề xuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL, nhất là quy trình xây dựng luật; hoàn thiện quy định về trách nhiệm của tập thể, cá nhân, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản, cán bộ, công chức trực tiếp tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét, thông qua VBQPPL.
Ba là, thường xuyên quán triệt, nâng cao nhận thức cho đảng viên, công chức của Vụ về những yêu cầu sau đây: (i) hoạt động xây dựng pháp luật phải xuất phát từ thực tiễn của đất nước trên cơ sở kế thừa các giá trị pháp lý truyền thống và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước; (ii) bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm phản hồi, giải trình ý kiến góp ý trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL; (iii) tăng cường sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các chuyên gia, nhà khoa học và toàn thể Nhân dân trong quy trình xây dựng pháp luật; (iv) tổ chức, hoạt động của Ban soạn thảo, Tổ biên tập phải đúng quy định, bảo đảm sự tham gia của các bộ, ban, ngành có liên quan.
Bốn là, khai thác, ứng dụng tối đa thành tựu của khoa học, kỹ thuật, nhất là ứng dụng công nghệ, những thành quả của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, nhằm đổi mới phương pháp bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả của quy trình xây dựng pháp luật./.