QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI THEO MÔ HÌNH CÔNG CHỨNG NỘI DUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
Sign In
Nghiên cứu trao đổi
                  

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI THEO MÔ HÌNH CÔNG CHỨNG NỘI DUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM

Lịch sử hình thành và phát triển công chứng trên thế giới ghi nhận, thế giới tồn tại 03 mô hình công chứng, đó là: (1) Mô hình công chứng nội dung (La tinh) tương ứng với hệ thống pháp luật La Mã - còn gọi là mô hình pháp luật dân sự (Civil Law); (2) Mô hình công chứng hình thức (Anglo – Saxon) tương ứng với hệ thống pháp luật Anglo-Saxon (Common Law) và (3) Mô hình công chứng tập thể (Collectiviste) tương ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique). Với mỗi mô hình đều có quá trình lịch sử hình thành, ưu điểm, nhược điểm và hạn chế riêng, trong phạm vi khuôn khổ bài viết, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về mô hình công chứng La tinh, đây cũng là mô hình mà Việt Nam là một trong những quốc gia thành viên.
Hiện nay, mô hình công chứng nội dung đã có mặt ở 86 quốc gia trên thế giới (trong số đó có 22/28 quốc gia Châu Âu, chiếm hơn 60% dân số thế giới)[1]. Tại các quốc gia theo mô hình này, công chứng viên phải là những người am hiểu pháp luật được đào tạo chuyên sâu và được Nhà nước công nhận trên cơ sở các điều kiện, tiêu chuẩn và được xét duyệt theo một quy trình cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật. Quan điểm của các nước theo mô hình công chứng La tinh cho rằng, những hoạt động liên quan đến kinh tế, tài sản đối với mỗi công dân đều phải được chuyên gia độc lập và các bên liên quan xem xét về tính pháp lý của giao dịch, việc làm này nhằm giảm thiểu tối đa các tranh chấp có thể phát sinh sau này. Đồng thời, hệ thống luật dân sự ưu tiên bằng chứng bằng văn bản, do đó, đã xuất hiện sự hiện diện của một chuyên gia với vai trò là Công chứng viên, ghi nhận và xác nhận toàn bộ giá trị pháp lý của các giao dịch giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, bảo đảm tính hợp pháp, khách quan, công khai, trung thực của các giao dịch đó.
Xuất phát từ đặc điểm nêu trên, cùng với những nghiên cứu về ưu điểm mà mô hình công chứng nội dung mang lại, bài viết này sẽ đi sâu vào nghiên cứu lịch sử hình thành, vị trí, vai trò của công chứng viên tại các quốc gia theo mô hình công chứng nội dung, cũng như các điều kiện để trở thành công chứng viên và giá trị pháp lý của văn bản công chứng để gợi mở kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng năm 2014.
1. Lịch sử hình thành và vị trí, vai trò của công chứng viên tại các quốc gia theo mô hình công chứng nội dung
Mặc dù khái niệm “công chứng viên” được sử dụng trong cả hệ thống pháp luật thông luật – Common law và hệ thống dân luật – Civil law, nhưng phải nhấn mạnh ngay từ đầu rằng khái niệm (ý nghĩa) đằng sau từ này trong hai hệ thống luật là hoàn toàn khác biệt. Trong hệ thống pháp luật dân sự, khái niệm “Công chứng viên La tinh” dùng để chỉ những thư ký của Hoàng đế, người viết thư cho hoàng đế; sau đó, dần dần khái niệm này được mở rộng ra để chỉ những người soạn thảo các văn bản giữa các chủ thể là cá nhân hoặc pháp nhân, ghi nhận các tính pháp lý của các văn bản giao kết giữa các chủ thể đó.
Từ thế kỷ thứ VIII, các văn bản công chứng đã có sức mạnh thi hành tương đương với một bản án. Và từ thế kỷ XI (năm 1.000), chứng thư công chứng đã được ban cho một “niềm tin công cộng” đặc quyền, một sức mạnh đặc biệt. Trong thời kỳ này, công chứng viên được ngang hàng với hiệp sĩ và thẩm phán trong các ngành nghề cao quý. Tuy nhiên, gốc rễ của hệ thống công chứng La tinh hiện đại nằm ở các giá trị của chủ nghĩa nhân văn, việc tìm kiếm công lý và bảo vệ những đối tượng yếu thế nhất. Thông qua hệ thống này, bằng cách sử dụng các công chứng viên là những chuyên gia pháp lý có trình độ, Nhà nước muốn đảm bảo sự chắc chắn trong hoạt động mua bán, trao đổi thương mại hợp pháp và bảo vệ các cá nhân. Theo quy định của pháp luật hoặc theo sự tự nguyện của khách hàng, công chứng viên đem laị cho các văn bản và hợp đồng tính xác thực, có giá trị như văn bản do các cơ quan công quyền khác cấp, đảm bảo cho các hợp đồng một sự an toàn trong mọi tình huống, hạn chế được đến mức thấp nhất những tranh chấp dân sự, làm giảm bớt gánh nặng quá tải về xét xử của các Toà án.  Công chứng viên giữ vai trò quan trọng để đảm bảo trật tự pháp lý, đó là vai trò bổ trợ tư pháp như một thẩm phán về hợp đồng, nhằm phòng ngừa tranh chấp. Chính vai trò mang tính chất phòng ngừa này của công chứng viên là một ưu điểm hoàn toàn khác biệt giữa các quốc gia theo công chứng nội dung với các quốc gia theo công chứng hình thức.
Ngày nay, với những lợi thế của loại công chứng La tinh được quốc tế công nhận đã dẫn đến sự lan rộng đáng kể của mô hình này trên thế giới trong những năm gần đây - nhờ kết quả của quá trình toàn cầu hóa: các quốc gia có nền văn hóa rất xa xôi đã trở thành một phần của hệ thống công chứng nay, như Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia và Việt Nam, đồng thời sự hiện diện của mô hình này càng được củng cố ở châu Âu với sự gia nhập của Nga và hầu hết các nước Đông Âu. 
Ở các quốc gia theo mô hình công chứng nội dung, công chứng viên được thể hiện với 05 vai trò cụ thể sau:
1) Là chuyên gia pháp lý am hiểu pháp luật: Để trở thành công chứng viên, các công chứng viên La tinh phải có bằng luật. Họ có thể đã vượt qua kỳ thi luật sư hoặc không. Tuy nhiên, ở Ý, họ không được phép hành nghề cả hai ngành luật cùng một lúc. Để được phép hành nghề công chứng, họ phải vượt qua một kỳ thi rất nghiêm ngặt và cạnh tranh, và không giống như luật sư, số lượng của họ được pháp luật ấn định.
2) Là “công chức” thực hiện chức năng công: “Công chức” là người có chuyên môn thực hiện “chức vụ công”. Điều này có nghĩa là anh ta được Nhà nước trao quyền hành và đức tin, điều này cho phép anh ta lập "chứng thư xác thực" (hoặc "chứng thư công"). "Chứng thư đích thực" là "sản phẩm" đặc trưng của hệ thống công chứng La tinh. Mặc dù kỷ luật của công chứng viên có thể cho thấy những khác biệt nhỏ ở các quốc gia khác nhau áp dụng hệ thống La tinh, nhưng tất cả họ đều đưa ra các văn bản xác thực (công khai) có cùng ý nghĩa pháp lý. Tính xác thực có nghĩa là sự an toàn về mặt pháp lý và độ tin cậy của các văn bản pháp luật: đây được coi là những mục tiêu thiết yếu trong nhà nước hiến pháp của chúng ta, bởi vì chúng có thể rất hiệu quả.
3) Là chuyên gia pháp lý có nhiệm vụ chính là lập chứng thư xác thực: Như đã viết ở trên, chứng thư "xác thực" hoặc "công khai" là một công cụ đáng tin cậy về mặt pháp lý, độ tin cậy của nó được đảm bảo bởi Công chứng viên La tinh, người thực thi nó. Để đảm bảo độ tin cậy về mặt pháp lý của một chứng thư xác thực, khi thực hiện chứng thư đó (cũng như khi "công chứng", "chứng thực" một chứng thư tư nhân), công chứng viên La tinh phải đảm bảo 7 yêu cầu sau:
(i) Đảm bảo danh tính của các bên;
(ii) Đảm bảo rằng họ có đủ năng lực pháp lý, quyền hạn pháp lý và ủy quyền phù hợp để tham gia giao dịch cụ thể đó (nếu có người ủy quyền, họ phải chắc chắn rằng người ủy quyền có đủ năng lực pháp lý để thực hiện giao dịch đó);
(iii) Xác định ý định thực sự của các bên, hiệu quả mà họ mong muốn đạt được;
(iv) Đảm bảo rằng kết quả của thỏa thuận phù hợp với mọi điều khoản của pháp luật hiện hành;
(v) Giải thích cho các bên giá trị và hậu quả pháp lý của hậu quả đó;
(vi) Đảm bảo rằng các hậu quả pháp lý phát sinh từ chứng thư đó thực sự được các bên mong muốn.
(vii) Công chứng viên có trách nhiệm phải kiểm tra kỹ lưỡng tất cả các sự kiện đang diễn ra trước mắt mình và tính chắc chắn về mặt pháp lý của các tài liệu liên quan đến chứng thư và/hoặc phụ lục kèm theo chứng thư.
4) Là một chuyên gia bị buộc phải lưu giữ hợp pháp các văn bản gốc, với tư cách là văn phòng hồ sơ công cộng: ngoài việc thực hiện việc xác lập các giao dịch, công chứng viên có nhiệm vụ bảo quản các văn bản gốc tại văn phòng của mình để tư vấn hoặc cấp bản sao có chứng thực trong tương lai. Bản gốc không thể rời khỏi văn phòng nơi công chứng viên đó làm việc trừ khi công chứng viên đó nhận được lệnh của Tòa án.
5) Là một cố vấn đa đảng, với vai trò “chống xét xử”: Điều này có nghĩa là công chứng viên thường thực hiện những gì đã được đề cập như chức năng "chống xét xử", chức năng này đang trở nên tiết kiệm chi phí cho toàn xã hội do chi phí của hệ thống tư pháp ngày càng tăng. Từ quan điểm này, công chứng viên có thể được định nghĩa là một công chức được Nhà nước giao một quyền lực công cụ thể, quyền khẳng định (khẳng định) tính xác thực của một tài liệu. Con dấu chính thức của Nhà nước được công chứng viên sử dụng làm chứng cho sức mạnh đặc quyền này.
2. Pháp luật về Công chứng viên ở Ý
Nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, mô hình công chứng nội dung xuất hiện lần đầu tiên ở Ý, có thể nói cơ quan công chứng Ý là cơ quan lâu đời nhất và có ảnh hưởng nhất trên thế giới đối với các quốc gia theo trường phát công chứng nội dung. Công chứng viên ở Ý chịu sự điều chỉnh bởi Đạo luật số 89 năm 1913, theo đó:
- Phạm vi công chứng
Lĩnh vực công chứng ở Ý bao gồm: hợp đồng bất động sản, các hợp đồng tín dụng cho vay, thế chấp, các vấn đề có liên quan đến tài sản như di chúc, cổ phần tại các công ty…Bên cạnh đó, công chứng viên cũng thực hiện các nhiệm vụ tư pháp khác với tư cách là trợ lý/thư ký tư pháp.
- Về điều kiện trở thành công chứng viên
 Điều 5 Đạo luật về công chứng của Ý có quy định về điều kiện để trở thành công chứng viên, theo đó: phải là công dân của Ý, độ tuổi tối thiểu để trở thành công chứng viên là 21 tuổi, có đạo đức, hành vi pháp lý trong sạch về mọi mặt, chứng từng bị kết án, được trang bị bằng luật hoặc bằng thạc sỹ luật do một trường đại học ở Ý cấp hoặc xác nhận tương đương; công chứng viên cũng phải được đăng ký tập sự hành nghề tại Hội đồng công chứng và trải qua quá trình thực tập tại một văn phòng công chứng cụ thể, sau khi kết thúc quá trình tập sự đó, công chứng viên phải vượt qua một kỳ thi do Bộ Tư pháp tổ chức mới được chính thức công nhận là công chứng viên. Nhà nước kiểm soát công chứng viên thông qua hoạt động kiểm tra định kỳ của Bộ Tư pháp (2 năm một lần).   
- Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Ở Ý, mức độ giá trị được thừa nhận phổ biến nhất của văn bản công chứng là giá trị khẳng định tính xác thực của sự việc, ngoại trừ có những chứng cứ ngược lại phủ nhận văn bản công chứng này. Đối với văn bản liên quan đến nghĩa vụ đã được công chứng mà người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, người có quyền có thể gửi yêu cầu giải quyết tới Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3. Pháp luật về công chứng viên ở Trung Quốc[2]
Công chứng viên và các hoạt động của công chứng viên ở Trung Quốc được điều chỉnh bởi các quy định tại Luật Công chứng số 39 năm 2005. Phạm vi điều chỉnh của Đạo luật này là nhằm mục đích điều chỉnh hoạt động công chứng, bảo đảm tổ chức công chứng, công chứng viên thực hiện nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật, phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thể nhân, pháp nhân và tổ chức khác.
- Phạm vi công chứng
Tùy theo yêu cầu của cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức khác, cơ quan công chứng có trách nhiệm công chứng các vấn đề sau: (1) Hợp đồng; (2) Thức kế;(3) Giấy ủy quyền, tuyên bố, quà tặng và di chúc; (4) Phân chia tài sản; (5) Mời thầu, đấu thầu và đấu giá; (6) Tình trạng hôn nhân, quan hệ họ hàng và quan hệ nhận con nuôi; (7) Sinh, tồn tại, chết, danh tính, kinh nghiệm, trình độ học vấn, bằng cấp, chức danh, chức danh nghề nghiệp và có hoặc không có tiền án hoặc tiền án bất hợp pháp; (8) Điều lệ công ty; (9) Bảo quản bằng chứng;(10) Chữ ký, con dấu và ngày ghi trong tài liệu và bản sao hoặc bản sao của tài liệu phù hợp với tài liệu gốc; Và (11) Các vấn đề khác mà cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức khác tự nguyện yêu cầu công chứng.
Đối với vấn đề cần phải công chứng theo quy định của pháp luật, pháp luật hành chính thì cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức khác có liên quan có trách nhiệm yêu cầu tổ chức công chứng thực hiện công chứng.
- Điều kiện trở thành công chứng viên
Điều 18 Đạo luật số 39 quy định về điểu kiện để trở thành công chứng viên bao gồm: (i) có quốc tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; (ii) từ 25 đến 65 tuổi; (iii) có tư cách công bằng và ngay thẳng, tuân thủ pháp luật và các quy tắc kỷ luật, và có tư cách đạo đức tốt; (iv) đã vượt qua kỳ thi tư pháp quốc gia; (v) đã từng là thực tập sinh tại một cơ quan công chứng từ hai năm trở lên, hoặc có ba năm kinh nghiệm trở lên trong một ngành luật khác và đã từng là thực tập sinh tại một cơ quan công chứng từ một năm trở lên, và có tư cách chuyên môn đạt tiêu chuẩn.
Bên cạnh đó, Điều 19 của đạo luật này cũng có quy định cho phép người đã giảng dạy, nghiên cứu pháp luật hoặc có chức danh chuyên môn cao hoặc người đã tốt nghiệp đại học hoặc có trình độ học vấn cao hơn và có đủ 10 năm làm công chức, luật sư xét xử, kiểm sát, lập pháp hoặc công tác pháp luật nếu đã rời chức vụ và đã có trình độ chuyên môn thì được làm công chứng viên. 
Để làm công chứng viên, người có đủ điều kiện làm công chứng viên phải nộp đơn và được tổ chức công chứng giới thiệu. Cơ quan quản lý tư pháp địa phương có trách nhiệm trình vụ việc lên cơ quan quản lý tư pháp chính quyền nhân dân tỉnh, khu tự trị, đô thị trực thuộc Trung ương để xem xét, phê duyệt và sau khi phê duyệt sẽ đề nghị cơ quan quản lý tư pháp trực thuộc. Hội đồng Nhà nước bổ nhiệm trước khi cấp chứng chỉ hành nghề công chứng cho người đó.
Ngoài ra, pháp luật Trung Quốc cũng quy định về các trường hợp không được phép làm công chứng viên:  
(1) Người đó không có hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
(2) Đã bị xử lý hình sự do phạm tội cố ý hoặc phạm tội do chểnh mảng nhiệm vụ;
(3) Anh ta đã bị sa thải khỏi công việc công; hoặc
(4) Chứng chỉ hành nghề đã bị thu hồi.
- Giá trị của văn bản công chứng
Theo quy định tại Điều 36 Đạo luật số 39, văn bản pháp luật dân sự, sự việc, văn bản có ý nghĩa pháp lý được công chứng được lấy làm căn cứ để xác lập sự việc, trừ trường hợp có bằng chứng trái ngược đủ mạnh để hủy bỏ việc công chứng. Bên cạnh đó, Điều 37 của Đạo luật này cũng quy định: đối với văn bản có công chứng về quyền của chủ nợ có nội dung về việc thanh toán trong đó ghi rõ cam kết của bên mắc nợ chấp nhận cưỡng chế thi hành, nếu bên mắc nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kết thì chủ nợ có quyền: theo quy định của pháp luật thì nộp đơn yêu cầu thi hành án lên Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp giấy tờ về quyền chủ nợ nêu tại khoản trên chắc chắn có sai sót thì Tòa án nhân dân quyết định không thi hành văn bản đó và gửi quyết định bằng văn bản cho cả hai bên liên quan và tổ chức công chứng.
4. Pháp luật về công chứng viên ở Hàn Quốc[3]
- Phạm vi công chứng: Luật Công chứng Hàn Quốc không quy định cụ thể về phạm vi công chứng như pháp luật của các quốc gia khác, Điều 2 Luật Công chứng Hàn Quốc chỉ có quy định về Nhiệm vụ của công chứng viên  như sau: Nhiệm vụ của Công chứng viên là quản lý các công việc sau đây theo ủy quyền của người có liên quan hoặc bất kỳ người có quyền lợi nào khác. Đối với những nhiệm vụ này, công chứng viên được coi là có tư cách công chức:
1. Chuẩn bị các chứng thư công chứng về các hành vi pháp lý hoặc sự kiện liên quan đến bất kỳ quyền riêng tư nào khác;
2. Công chứng trên các văn bản được ký bởi một cá nhân hoặc một tài liệu điện tử, v.v. (không bao gồm văn bản do một công chức nhà nước chuẩn bị);
3. Các nhiệm vụ khác do công chứng viên thực hiện  theo quy định của Luật Công chứng Hàn Quốc và các đạo luật khác có liên quan.
- Điều kiện trở thành công chứng viên
Điều 12 Luật Công chứng Hàn Quốc quy định về Yêu cầu đối với công chứng viên được bổ nhiệm như sau: “Điều kiện để được bổ nhiệm làm công chứng viên là phải làm việc tại vị trí được quy định trong khoản 1 Điều 42 của Đạo luật Tổ chức tòa án ít nhất 10 năm[4]. “
Ngoài ra, Điều 13 của Luật này cũng có quy định về các trường hợp không được bổ nhiệm làm công chứng viên:
1. Người không đủ năng lực hành vi dân sự và phải chịu sự giám hộ của người lớn hoặc người giám sát hạn chế.
2. Người bị tuyên bố phá sản và chưa được khôi phục.
3. Người bị kết án tù không lao động hoặc hình phạt nặng hơn và chưa đủ 5 năm kể từ ngày thi hành án xong hoặc ngày có quyết định miễn thi hành án.
4. Người đã bị kết án phạt tù hoặc hình phạt nặng hơn và chưa đủ 2 năm kể từ ngày hết thời gian quản chế.
5. Người đã được hưởng án treo hoặc hình phạt nặng hơn và đang trong thời gian quản chế.
6. Người bị loại hoặc đình chỉ bằng cấp theo quyết định của tòa án.
7. Người chưa quá năm năm kể từ ngày bị sa thải hoặc sa thải do luận tội hoặc kỷ luật, hoặc bị trục xuất theo Đạo luật Luật sư.
8. Người chưa quá 3 năm kể từ ngày bị sa thải do bị xử lý kỷ luật.
- Giá trị của văn bản công chứng
Pháp luật Hàn Quốc không có quy định cụ thể về giá trị của văn bản công chứng.
5. Công chứng viên ở Pháp
Pháp cũng là một trong những quốc gia thuộc trường phái công chứng La tinh. Tính đến 31/7/2019, ở Pháp có tổng cộng 14.210 công chứng viên với hơn một nửa công chứng viên là nữ (7.037 nữ công chứng viên); độ tuổi trung bình của công chứng viên ở Pháp là 47. Mỗi năm ở Pháp, các công chứng viên tư vấn cho khoảng 20 triệu người với tổng doanh thu khoảng 8 tỷ Euro. Trung bình trong một năm, các công chứng viên soạn thảo và xác nhận khoảng 4 triệu văn bản, và hơn 320.000 chúc thư. Ở Pháp, công chứng viên chịu sự điều chỉnh bởi Đạo luật số …..
- Phạm vi công chứng
Theo quy định của pháp luật về công chứng ở Pháp, một số hành vi và hợp đồng nhất định được pháp luật quy định phải được công chứng viên soạn thảo và được các bên ký trước sự chứng kiến ​​​​của công chứng viên đó (hoặc bằng phương thức điện tử). Bao gồm:
- Di chúc xác thực
- Hợp đồng hôn nhân
- Hành động tặng quà
- Mua bán bất động sản
- Giải quyết thừa kế
- Thừa kế và di chúc (trong nhiều trường hợp)
- Lập gia đình trong một số trường hợp cụ thể (khi phải chứng minh tư cách)
Bên c gia đình trong một số trường hợp cụ thbên c gianêu trên, công ch đình trong một số trường hợp cụ thể (khi phải chứng minh tư cách)chứng viên soạn thảo và được các bên ký trước sự chứng kiến ​​​​của công chứng viên đó ( v đầy đủ về cam kết của mình nhằm ngăn chặn những xung đột tiềm ẩn trong tương lai.
- Điều kiện trở thành công chứng viên
Địa vị pháp lý của công chứng viên ở Pháp được quy định như sau: “Công chứng viên là công chức nhà nước được bổ nhiệm nhằm tiếp nhận văn bản, hợp đồng mà các bên phải hoặc muốn công nhận tính xác thực gắn liền với sự chứng nhận của cơ quan công quyền…”. Ở Pháp, công chứng viên là những người được Nhà nước ủy quyền, do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công thông qua hoạt động chứng nhận hành vi và hợp đồng mà các bên phải hoặc muốn chứng nhận tính xác thực.
Công chứng viên là người hợp thức hóa thỏa thuận của các bên và có thẩm quyền đóng con dấu xác thực vào toàn bộ các văn bản mà mình tiếp nhận. Công chứng viên phải cũng đảm bảo lưu giữ toàn bộ các dự thảo biên bản. Ngoài chức năng xác thực tính hợp lệ và bảo đảm an toàn cho các văn bản nói trên, các công chứng viên còn có thể can thiệp với phạm vi rộng hơn: họ là các chuyên gia về pháp luật tổng quát với một tầm nhìn tổng thể về các vấn đề pháp lý. Họ có thể can thiệp vào khuôn khổ pháp lý nói chung và khuôn khổ pháp lý về thuế, điều đó khiến họ trở nên đặc biệt hiệu quả trong việc tư vấn cho khách hàng của mình. Do đó, các công chứng viên có thể được mô tả là các "bác sĩ về tài sản".
Ở Pháp, để trở thành công chứng viên, ứng viên phải có bằng thạc sĩ chuyên ngành luật và 02 năm đào tạo về thực hành công chứng. Hội đồng cấp cao công chứng viên Pháp (CSN) là tổ chức nghề công chứng, được thành lập ngày 11/2/1945. Hội đồng này được trao quyền thay mặt cho các công chứng viên. Hội đồng cấp cao là cơ quan ở cấp trung ương. Ngoài ra, có 72 Phòng công chứng thuộc khu hành chính đại diện cho các công chứng viên trong cùng khu hành chính. Các Phòng công chứng cấp khu hành chính tập hợp thành 33 Hội đồng công chứng cấp vùng. CSN gồm có các đại biểu được bầu 4 năm một lần bởi thành viên của Hội đồng khu vực và các công chứng viên của các phòng công chứng trong khu vực. Các đại biểu sẽ lần lượt được gia hạn một nửa sau 2 năm. Đại hội đồng CSN gồm 7 thành viên do các thành viên của CSN bầu ra theo nhiệm kỳ 2 năm.
- Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Tại Pháp văn bản công chứng có giá trị cưỡng chế thi hành trên toàn lãnh thổ, trừ trường hợp bị đình chỉ thi hành bởi Tòa án, công chứng viên có thể ban hành lệnh thực thi trong một số vấn đề đặc biệt theo yêu cầu tự nguyện của các bên có liên quan. Lệnh thực thi này cho phép tịch thu tài sản của bên có nghĩa vụ (là bên đi vay, bên đi thuê v.v...) mà không cần phải ra tòa.
6. Công chứng viên ở Nhật bản
Công chứng viên của Nhật bản chịu sự điều chỉnh bởi Đạo luật Công chứng số 53 năm 1908, đạo luật này đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần và lần gần đây nhất là năm 2004 (Đạo luật số 152). Theo đó, Đạo luật này quy định rất cụ thể về công chứng viên, điều kiện bổ nhiệm, miễn nhiệm, việc thực hiện các hoạt động công chứng, xác lập các văn bản công chứng, cơ quan quản lý nhà nước cũng như việc thực hiện các hoạt động kiểm tra, xử lý kỉ luật khi có sai phạm của công chứng viên.
- Về phạm vi công chứng
Điều 1 Đạo luật này quy định về phạm vi công chứng của công chứng viên, theo đó Công chứng viên có quyền thực hiện các hoạt động sau đây theo ủy quyền của một bên hoặc bất kỳ người nào khác có liên quan:
(i) lập văn bản có công chứng liên quan đến hành vi pháp lý hoặc bất kỳ sự việc nào khác liên quan đến quyền riêng tư;
(ii) chứng nhận một công cụ tư nhân;
(iii) chứng nhận các điều khoản của công ty theo Điều 30, đoạn (1) của Đạo luật Công ty (Đạo luật số 86 năm 2005) và các điều khoản theo đó Điều 30, đoạn (1) của Đạo luật Công ty được áp dụng với những sửa đổi phù hợp, như cũng như Điều 13 và 155 của Đạo luật về các Hiệp hội hợp nhất chung và các Tổ chức hợp nhất chung (Đạo luật số 48 năm 2006); Và
(iv) xác nhận hồ sơ điện tử hoặc từ tính (hồ sơ được tạo ở dạng điện tử, dạng từ tính hoặc bất kỳ dạng nào khác mà giác quan của con người không thể cảm nhận được (sau đây gọi là "Dạng điện tử hoặc từ tính"), được sử dụng trong thông tin xử lý bằng máy tính; áp dụng tương tự sau đây); tuy nhiên, với điều kiện là điều này chỉ áp dụng trong các trường hợp chứng nhận hồ sơ điện tử hoặc từ tính không phải là hồ sơ do nhân viên chính phủ tạo ra khi thực hiện nhiệm vụ của nhân viên nói trên.
Đối với những hoạt động trên, Công chứng viên sẽ không được từ chối ủy quyền nếu không có lý do chính đáng cho việc từ chối.
Trong thời gian hành nghề công chứng, Công chứng viên không được thực hiện bất kỳ nghĩa vụ công cộng nào khác, tiến hành kinh doanh thương mại hoặc đồng thời làm đại diện hoặc nhân viên của bất kỳ công ty thương mại hoặc hiệp hội hợp nhất nào để kiếm lợi nhuận; tuy nhiên, với điều kiện là điều này không áp dụng nếu công chứng viên đã được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho phép.
- Về điều kiện để trở thành công chứng viên
Pháp luật của Nhật quy định, để trở thành công chứng viên, phải thỏa mãn các điều kiện sau:
 (i) là công dân Nhật Bản đã đến tuổi trưởng thành; Và
(ii) đã hoàn thành khóa đào tạo thực hành với tư cách là người học việc ít nhất sáu tháng sau khi vượt qua kỳ thi cụ thể.
Các quy định liên quan đến kiểm tra công chứng và đào tạo thực hành sẽ do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định cụ thể.
Ngoài ra, điều 13 của đạo luật này cũng cho phép một người có đủ tiêu chuẩn làm thẩm phán (trừ thẩm phán của các tòa án sơ thẩm), công tố viên (không bao gồm trợ lý công tố viên) hoặc luật sư có thể được bổ nhiệm làm công chứng viên mà không cần vượt qua kỳ thi công chứng hoặc hoàn thành khóa đào tạo thực hành liên quan và Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể bổ nhiệm một công chứng viên trong số những người đã làm công việc pháp lý nhiều năm và nhờ đó có được kiến ​​thức và kinh nghiệm liên quan tương đương với những người được đề cập ở Điều trước và những người đã được một hội đồng lựa chọn, v.v. (có nghĩa là cơ quan được quy định tại Điều 8 của Đạo luật Tổ chức Chính phủ Quốc gia (Đạo luật số 120 năm 1948)) do Lệnh Nội các quy định mà không yêu cầu họ phải thông qua kiểm tra công chứng hoặc hoàn thành khóa đào tạo thực hành liên quan; tuy nhiên, với điều kiện là điều này chỉ áp dụng cho các trường hợp quy định tại Điều 8.
Pháp luật Nhật bản cũng quy định một số trường hợp không được bổ nhiệm làm công chứng viên:  
(i) người đã bị kết án phạt tù hoặc hình phạt nặng hơn, trừ người bị kết án phạt tù không quá hai năm và đã chấp hành hình phạt hoặc không còn phải chấp hành hình phạt đó;
(ii) người đã có lệnh mở thủ tục phá sản và chưa được khôi phục các quyền của mình; Và
(iii) một thẩm phán đã bị sa thải theo quyết định tư pháp, một nhân viên chính phủ bị sa thải khỏi công vụ sau một biện pháp kỷ luật hoặc một luật sư bị tước quyền hành nghề theo Đạo luật Luật sư, khi chưa quá hai năm kể từ khi bị sa thải hoặc tước quyền hành nghề.
Luật cũng quy định cụ thể các trường hợp bị bãi nhiệm công chứng viên:
 (i) công chứng viên yêu cầu bãi nhiệm;
(ii) công chứng viên chưa trả tiền đặt cọc đảm bảo sự trung thực hoặc bất kỳ khoản tiền nào để bù vào ngày đến hạn;
(iii) công chứng viên đã đủ 70 tuổi; Và
(iv) công chứng viên trở nên yếu đuối về thể chất hoặc tinh thần và không thể thực hiện được nhiệm vụ của công chứng viên đó.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ là cơ quan ra quyết định bãi nhiệm đối với các trường hợp nêu trên.
- Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Pháp luật công chứng tại Nhật Bản thừa nhận văn bản công chứng có giá trị chứng cứ, văn bản công chứng mang tính chất của văn bản công, có giá trị chứng cứ hiển nhiên và không phải chứng minh việc lập văn bản đó hoặc tính trung thực của các tình tiết được nêu ra trong văn bản đó.
7. Một số khuyến nghị trong quá trình xây dựng Luật Công chứng (sửa đổi)
Qua nghiên cứu lịch sử hình thành, vị trí, vai trò của công chứng viên tại các quốc gia theo mô hình công chứng nội dung, cũng như các điều kiện để trở thành công chứng viên và giá trị pháp lý của văn bản công chứng, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm cần được quan tâm nghiên cứu, tham khảo trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng ở nước ta hiện nay, cụ thể như sau:
a) Liên quan đến việc bắt buộc phải công chứng đối với các hợp đồng liên quan đến bất động sản
Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam liên quan đến bất động sản còn bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn nên rất dễ dẫn đến những rủi ro pháp lý cho các bên khi tham gia hợp đồng, giao dịch về bất động sản. Thủ tục hành chính, giấy tờ liên quan đến bất động sản còn nhiều, trong khi đó ý thức pháp luật của người dân còn thấp nên không phải trường hợp nào người dân cũng nắm bắt đầy đủ quy định pháp luật. Do đó, việc quy định yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản là rất cần thiết và hợp lý trong điều kiện nước ta hiện nay, nó không chỉ có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, tăng cường công tác quản lý đất đai mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch.
b) Liên quan đến điều kiện về độ tuổi để hành nghề công chứng
Công chứng viên là người đại diện cho Nhà nước cung cấp dịch vụ công cho người yêu cầu công chứng, đòi hỏi Công chứng viên phải là người có sức khoẻ để thực hiện việc công chứng. Về tiêu chí sức khoẻ cần được xác định bằng độ tuổi, cộng với tình trạng sức khoẻ do cơ sở y tế có thẩm quyền xác nhận đủ điều kiện sức khoẻ để hành nghề công chứng.
Luật công chứng hiện hành ghi nhận tiêu chuẩn cuối cùng trong tiêu chuẩn bổ nhiệm Công chứng viên là: “Bảo đảm sức khoẻ hành nghề công chứng”. Quy định này rất chung chung, không cụ thể và không đề cập đến tiêu chí độ tuổi. Chính quy định này đã dẫn đến một thực trạng thực tế của nước ta là có những người hơn 80 tuổi vẫn đăng ký hành nghề công chứng, nhiều Công chứng viên được bổ nhiệm sau khi đã nghỉ hưu các ngành nghề khác. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng Công chứng viên.
Tham khảo pháp luật công chứng của một số quốc gia thì thấy pháp luật đều quy định độ tuổi là một trong những điều kiện xem xét để bổ nhiệm Công chứng viên. Pháp luật các nước thường quy định độ tuổi tối đa được hành nghề công chứng là 65 tuổi (Trung Quốc). Về điều kiện sức khoẻ, pháp luật thường lấy tiêu chí sức khoẻ của viên chức, công chức làm điều kiện cho sức khoẻ để bổ nhiệm công chứng viên.
Trên cơ sở thực trạng pháp luật, thực trạng của hoạt động công chứng và tham khảo Luật Công chứng của các quốc gia trên thế giới, chúng tôi kiến nghị sửa đổi tiêu chuẩn này trong Luật Công chứng hiện hành và Dự thảo như sau: “Bảo đảm sức khoẻ của một công chức, viên chức Nhà nước và không được quá 70 tuổi”.
c) Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Pháp luật một số nước theo công chứng La tinh thừa nhận văn bản công chứng có giá trị chứng cứ vật chất nên được Tòa án coi là “chứng cứ hiển nhiên”; khi được trình lên thẩm phán thì không cần phải qua giám định hoặc xác minh, điều tra. Cũng vì được thừa nhận là chứng cứ hiển nhiên nên các bên khi đã ký vào văn bản thì không có quyền khiếu nại về nội dung của văn bản đã được công chứng mà văn bản công chứng có “giá trị thi hành ngay”, có giá trị như một phán quyết của Tòa án. Nếu một hợp đồng, giao dịch đã công chứng mà có tranh chấp thì chỉ cần chuyển một bản sao của văn bản công chứng đến là Tòa án có thể cho thi hành ngay mà không cần xem lại hợp đồng, giao dịch gốc. Với việc mua bán bất động sản, hợp đồng mua bán có công chứng được coi là giấy tờ sở hữu. Văn bản công chứng được coi là văn bản được cơ quan công quyền xác thực.
Trên cơ sở đó, pháp luật về công chứng của Việt Nam cũng cần xem xét đề có những điều khoản ghi nhận giá trị pháp lý của văn bản công chứng, khi mà để hình thành nên những văn bản như thế cần được thực hiện bởi những cá nhân được nhà nước trao quyền, có năng lực xem xét tính hợp pháp của các giao dịch và bản thân họ cũng chịu trách nhiệm về những giao dịch đó.
d) Cần nghiên cứu kỹ, xây dựng lộ trình vững chắc việc chuyển đổi số hoạt động công chứng
Trong thời điểm hiện nay, việc đưa quy định về công chứng điện tử vào Luật Công chứng (sửa đổi) là cần thiết, theo đó cần bảo đảm 03 nội dung: (i) Xây dựng cơ sở dữ liệu và kết nối, liên thông; (ii) Công chứng trực tuyến; (iii) Lưu trữ văn bản công chứng điện tử. Về cơ bản, Luật Công chứng (sửa đổi) phải tạo được cơ sở pháp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật để lưu trữ lượng thông tin công chứng lớn và kết nối các tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan, đơn vị có liên quan; xác định trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan… Sau khi đã đạt được những điều kiện cơ bản này, việc đặt vấn đề chuyển đổi số toàn diện (như công chứng trực tuyến) sẽ phù hợp và khả thi hơn trong tương lai.
Bên cạnh đó, để bảo đảm việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về công chứng giảm thiểu các khó khăn về thời gian, nguồn lực cũng như việc chuyển đổi dữ liệu, cần xem xét, đề xuất bổ sung quy định việc Chính phủ (hoặc giao Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Thông tin và truyền thông, các bộ, ngành liên quan) quy định chuẩn kết nối và xây dựng công cụ kết nối để các địa phương kết nối và chia sẻ cơ sở dữ liệu đã có của mình vào cơ sở dữ liệu chung quốc gia.

                                                                                                                                Ths. Phạm Thị Ninh –
                                                                                Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Báo cáo kinh nghiệp quốc về công chứng (kèm theo hồ sơ trình dự án Luật Công chứng (sửa đổi) của Chính phủ)
  2. czozMDoiZD0yMDAwKzQmZj1MYXcgTm8uIDMwLnBkZiZqcz0xIjs=.pdf (flevin.com)
  3. Notary Act - English - Japanese Law Translation
  4. LUẬT số 89 ngày 16 tháng 2 năm 1913 - Normattiva
  5. https://www.notaires.fr/en/notaire/role-notaire-and-his-principal-activities/notarized-document-authentic-deed
  6. https://www.notaires.fr/en/notaire/role-notaire-and-his-principal-activities/role-notaire
  7. https://chassaint-cercle.notaires.fr/en/role-missions-public-notary-paris-france/
  8. https://www.csn.notaires.fr/en/civil-law-notaries-and-law-model#:~:text=In%20the%20french%20legal%20system,an%20impartial%20advisor%20to%20them.
  9. https://www.french-property.com/reference/role_of_notaire.htm
 
[1] https://notariato.it/en/notaio/notaries-around-the-world/
[2] http://www.asianlii.org/cn/legis/cen/laws/nl183/
[4] Khoản 1 Điều 42 quy định đó là Thẩm phán, công tố viên/kiểm sát viên, luật sư.