Chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật theo quy định của Luật ban hành VBQPPL năm 2015 và một số đề xuất, kiến nghị
Sign In
Danh sách tin tức
                  

Chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật theo quy định của Luật ban hành VBQPPL năm 2015 và một số đề xuất, kiến nghị

Kể từ khi được thành lập năm 1945, giải thể rồi tái thành lập, cùng với quá trình phát triển thăng trầm của đất nước, Bộ Tư pháp luôn thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng pháp luật. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, vai trò của Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật ngày càng được mở rộng và tăng cường. Với vị trí là một cơ quan của Chính phủ, Bộ Tư pháp có nhiệm vụ tương tự như của các bộ khác trong công tác xây dựng văn bản pháp luật, đó là chủ trì soạn thảo các luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ và thông tư của Bộ trưởng. Bên cạnh đó, thực hiện chức năng là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp còn được giao nhiều nhiệm vụ, quyền hạn khác như: giúp Chính phủ đề xuất chiến lược và các chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật, tư vấn về chính sách pháp luật, thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế …
Cùng với các Nghị định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp, vai trò của Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật được khẳng định rõ nét thông qua các quy định trong các đạo luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng giúp khẳng định vai trò, trách nhiệm cũng như tạo cơ sở để Bộ Tư pháp thực hiện hiệu quả hơn chức năng giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật trong thời gian tới.
1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 9 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016 (sau đây gọi là Luật năm 2015). Với tính chất là một “Luật về làm luật”, Luật năm 2015 là một đạo luật rất quan trọng trong hệ thống pháp luật của Việt Nam.
Bên cạnh việc kế thừa các quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (Luật năm 2008) về nhiệm vụ của Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật (giúp Chính phủ lập đề nghị chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm; thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật…), Luật năm 2015 đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm nâng cao vị trí, vai trò của Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật như giao Bộ Tư pháp chủ trì thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định của Chính phủ; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan chuẩn bị ý kiến của Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình… Cụ thể như sau:
1.1. Thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Theo quy định tại Điều 39 và Điều 88 của Luật năm 2015 thì Bộ Tư pháp được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao và các cơ quan, tổ chức có liên quan thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trước khi trình Chính phủ và đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ. Đây là một trong các nhiệm vụ mới mà Luật năm 2015 giao cho Bộ Tư pháp thực hiện. Việc thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thực chất là thẩm định chính sách trong các sáng kiến lập pháp, lập quy, đòi hỏi phải đầu tư nhiều chất xám và thời gian để thực hiện. Nội dung thẩm định tập trung vào một số vấn đề sau:
(1) Sự cần thiết ban hành; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản;
(2) Sự phù hợp của nội dung chính sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;
(3) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của chính sách với hệ thống pháp luật và tính khả thi, tính dự báo của nội dung chính sách, các giải pháp và điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách dự kiến trong đề nghị xây dựng văn bản;
(4) Tính tương thích của nội dung chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
(5) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản, nếu chính sách liên quan đến thủ tục hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong đề nghị xây dựng văn bản, nếu chính sách liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;
(6) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng văn bản.
Hơn nữa, để nâng cao giá trị của báo cáo thẩm định thì ngoài việc phải thể hiện rõ ý kiến về các nội dung thẩm định được quy định trong Luật năm 2015, Bộ Tư pháp còn phải nêu rõ ý kiến của mình về việc đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ. Đây là việc bổ sung phù hợp, giúp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp, cùng với đó là góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan chủ trì lập đề nghị với chất lượng của đề nghị xây dựng văn bản do cơ quan mình tiến hành xây dựng.
1.2. Lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và theo dõi việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
Theo quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật năm 2015 thì “Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trên cơ sở các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được Chính phủ thông qua”. Với quy định này, Bộ Tư pháp phải thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
Một là, tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ đề nghị xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội do các bộ, cơ quan ngang bộ trình và đã được Chính phủ thông qua để lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;
Hai là, lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan, tổ chức liên quan đối với dự thảo Đề nghị của Chính phủ về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Trên cơ sở các ý kiến góp ý, Bộ Tư pháp chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Đề nghị để trình Chính phủ xem xét, thông qua.
Ba là, chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Đề nghị của Chính phủ trên cơ sở ý kiến của Thủ tướng Chính phủ và thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ, báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.
Sau khi Quốc hội thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm:
- Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ soạn thảo, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phân công cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo và dự kiến thời gian trình Chính phủ dự án luật, pháp lệnh;
- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc soạn thảo để bảo đảm tiến độ soạn thảo và chất lượng dự thảo luật, pháp lệnh;
- Hằng quý báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình, tiến độ và những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.
Trường hợp các bộ, cơ quan ngang bộ đề nghị điều chỉnh Chương trình thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp được giao thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị của Chính phủ về điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.
1.3. Cho ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình; kiến nghị về luật, pháp lệnh; dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết không do Chính phủ trình
Đối với các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình; kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội thì trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội phải gửi hồ sơ đề nghị để Chính phủ cho ý kiến (Điều 44 của Luật năm 2015). Theo đó, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan chuẩn bị ý kiến của Chính phủ đối với đề nghị không do Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh để Chính phủ cho ý kiến.
Đối với các dự án, dự thảo không do Chính phủ trình, Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ được Thủ tướng Chính phủ phân công chủ trì chuẩn bị ý kiến của Chính phủ, trình Chính phủ xem xét, quyết định (Điều 62 của Luật năm 2015).
1.4. Thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Theo quy định của Luật năm 2015, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, tổ chức thẩm định các dự án, dự thảo văn bản sau đây:
(1) Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình;
(2) Dự thảo nghị định của Chính phủ;
(3) Dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
(4) Dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
(5) Dự thảo thông tư, thông tư liên tịch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành hoặc liên tịch ban hành.
Nhiệm vụ thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật tuy không phải là một nhiệm vụ mới mà Bộ Tư pháp được giao thực hiện nhưng Luật năm 2015 đã đặt ra yêu cầu cao hơn về nội dung thẩm định nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định của Bộ Tư pháp. Theo đó, đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình, dự thảo nghị định của Chính phủ, Bộ Tư pháp phải phát biểu thêm về một số nội dung sau:
-  Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với mục đích, yêu cầu, phạm vi điều chỉnh, chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được thông qua;
- Sự cần thiết, tính hợp lý và chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản, nếu trong dự thảo văn bản có quy định thủ tục hành chính;
- Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành văn bản quy phạm pháp luật;
- Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản, nếu trong dự thảo văn bản có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới.
Ngoài việc thể hiện rõ ý kiến về các nội dung thẩm định, Báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp còn phải thể hiện rõ ý kiến của Bộ Tư pháp về việc dự án, dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ.
1.5. Góp ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định
Theo quy định của Luật năm 2008, Bộ Tư pháp chỉ cho ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn soạn thảo. Tuy nhiên, theo quy định mới của Luật năm 2015, Bộ Tư pháp không chỉ cho ý kiến trong giai đoạn soạn thảo mà còn phải cho ý kiến ngay từ giai đoạn lập đề nghị xây dựng văn bản. Theo đó:
- Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh: Bộ Tư pháp có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh với hệ thống pháp luật đến cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội lập đề nghị xây dựng văn bản.
- Đối với đề nghị xây dựng nghị định: Bộ Tư pháp có trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của đề nghị xây dựng nghị định với hệ thống pháp luật.
1.6. Lập danh mục văn bản quy định chi tiết; theo dõi, đôn đốc việc xây dựng văn bản quy định chi tiết
a) Về trách nhiệm lập danh mục văn bản quy định chi tiết, theo quy địnht tại khoản 2 Điều 28 của Nghị định số 34 quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34), Bộ Tư pháp có các trách nhiệm sau đây:
- Tiếp nhận, tổng hợp các đề xuất để lập danh mục văn bản quy định chi tiết; gửi lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ được dự kiến phân công soạn thảo;
- Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ lập và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định danh mục văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật;
- Thông báo bằng văn bản cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về danh mục các nội dung giao cho địa phương quy định chi tiết.
b) Về trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc xây dựng văn bản quy định chi tiết, theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Nghị định số 34, Bộ Tư pháp có trách nhiệm:
- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước để bảo đảm tiến độ soạn thảo và chất lượng dự thảo văn bản quy định chi tiết;
- Hằng quý, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình, tiến độ và những vấn đề phát sinh trong quá trình soạn thảo văn bản quy định chi tiết.
1.7. Hướng dẫn thống nhất chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng pháp luật
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp không chỉ trực tiếp thực hiện các hoạt động trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà còn thực hiện vai trò là cơ quan giúp Chính phủ hướng dẫn thống nhất về chuyên môn nghiệp vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Cụ thể, Bộ Tư pháp có trách nhiệm:
- Biên soạn các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật;
- Tổ chức đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật;
- Hằng năm, tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu cho cán bộ, công chức tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về kiến thức, phương pháp và kỹ năng xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách, thẩm định chính sách, soạn thảo, thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật,…
1.8. Một số nhiệm vụ, quyền hạn khác
- Tham gia vào quá trình soạn thảo dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức khác chủ trì soạn thảo (khoản 2 Điều 25 Nghị định số 34).
- Phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội do Chính phủ trình nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội để chỉnh lý dự án, dự thảo văn bản (Điều 72 của Luật năm 2015).
- Giữa các kỳ họp của Quốc hội, Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra; cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo văn bản; Ủy ban pháp luật và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và xây dựng báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo (khoản 2 Điều 75; khoản 2 và 4 Điều 76 của Luật năm 2015).
So với nhiệm vụ được quy định trong Luật năm 2008 thì nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Luật năm 2015 nặng nề hơn rất nhiều. Sau đây là một số nhiệm vụ mới:
Thứ nhất, vai trò góp ý kiến, cho ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật,pháp lệnh, nghị định theo thẩm quyền của Chính phủ. Theo quy định của Luật năm 2008, Bộ Tư pháp chỉ cho ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn soạn thảo; bên cạnh đó, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chuẩn bị ý kiến cho Chính phủ về những văn bản quy phạm pháp luật không do chính phủ trình. Nhưng lần này, theo Luật năm 2015, Bộ Tư pháp không chỉ cho ý kiến trong giai đoạn soạn thảo mà ngay từ giai đoạn lập đề nghị xây dựng văn bản, cơ quan, tổ chức lập đề nghị phải gửi lấy ý kiến các cơ quan trong đó bắt buộc phải có ý kiến của Bộ Tư pháp và Bộ Tư pháp phải có báo cáo đánh giá về tính thống nhất, tính hợp hiến, hợp pháp của đề nghị của đề nghị. Đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật không do Chính phủ trình thì Bộ Tư pháp được giao trách nhiệm chuẩn bị ý kiến cho Chính phủ.
Thứ hai, về vai trò thẩm định: Luật năm 2015 quy định Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và thẩm dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ. So với Luật hiện hành, việc bổ sung trách nhiệm thẩm định đề nghị chính sách là một trách nhiệm nặng nề và rất quan trọng. Ngoài ra, Bộ tư pháp là một trong 4 thành phần bắt buộc trong giai đoạn tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội để chỉnh lý dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và chỉnh lý đề nghị trước khi thông qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm.
Như vậy, Bộ Tư pháp có vai trò rất lớn trong toàn bộ quy trình lập pháp ở nước ta.
Với tư cách là một bộ của Chính phủ, Bộ Tư pháp có nhiệm vụ tương tự như của các bộ khác trong xây dựng văn bản pháp luật: chủ trì soạn thảo các luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ và thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Với tư cách là cơ quan giúp Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật: Bộ Tư pháp tham gia vào toàn bộ quy trình lập pháp, từ đầu vào cho đến đầu ra: từ giai đoạn đề nghị xây dựng pháp luật, soạn thảo văn bản, ban hành văn bản cho đến giai đoạn công bố văn bản pháp luật đã ban hành.
2. Một số kiến nghị
2.1. Kiến nghị chung
Thứ nhất, các đơn vị xây dựng pháp luật cần xác định cơ cấu cán bộ trực tiếp làm công tác xây dựng pháp luật một cách hợp lý (về trình độ, thâm niên, lĩnh vực hoạt động...) để bố trí hợp lý và bảo đảm đủ cán bộ thực hiện các nhiệm vụ được giao (tham gia đầy đủ các Ban soạn thảo, Tổ biên tập, tham gia thẩm định đề nghị xây dựng văn bản, dự án, dự thảo văn bản...). Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp cần có những cơ chế, chính sách đặc thù để ưu tiên thu hút, tuyển dụng và bố trí các cán bộ đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng pháp luật cho các đơn vị xây dựng pháp luật để có thể thực hiện được ngay công tác xây dựng pháp luật.
Thứ hai, chú trọng việc đào tạo, tập huấn kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách, kỹ năng thẩm định cho các công chức tham gia xây dựng pháp luật, đặc biệt là công chức trẻ. Ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chung về quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực thì cần bổ sung, cập nhật thêm vào chương trình những kiến thức, hiểu biết về kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế để nâng cao chất lượng xây dựng, đánh giá tác động chính sách cũng như soạn thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật.
2.2. Kiến nghị đối với dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 22
Thứ nhất, tại điểm b, c và d khoản 1 Điều 2 của dự thảo Nghị định: đề nghị chỉnh sửa lại cho ngắn gọn, rõ ý và phù hợp với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 như sau:
“b) Thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình; chuẩn bị ý kiến của Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội; thẩm định đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ theo quy định của pháp luật;
c) Lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đối với các vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; dự kiến cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; đôn đốc việc soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết do Chính phủ trình;
d) Lập danh mục, theo dõi, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; định kỳ hằng quý và hằng năm báo cáo Chính phủ”.
Thứ hai, bổ sung 02 điểm vào khoản 1 Điều 2 dự thảo Nghị định như sau:
- Phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội theo quy định của pháp luật (khoản 6 Điều 74, khoản 2 Điều 75 của Luật năm 2015);
- Cho ý kiến đối với dự thảo nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (khoản 4 Điều 105 của Luật năm 2015);
Thứ ba, đề nghị cân nhắc quy định “hoặc xử lý theo uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ đối với các văn bản trái pháp luật” tại điểm a khoản 3 Điều 2 của dự thảo Nghị định vì không phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 119 của Nghị định số 34.
Trên đây là Tham luận của Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật về Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.  
Thực hiện tốt những nhiệm vụ này sẽ trực tiếp góp phần nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng thể chế và hoàn thiện hệ thống pháp luật, qua đó nâng cao vị thế của Bộ Tư pháp, ngành Tư pháp trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước./.
                                                                                 Phòng Công tác xây dựng pháp luật, Vụ VĐCXDPL