Vừa qua, trong khuôn khổ chương trình hợp tác với dự án Jica Nhật Bản, Cục Kiểm tra văn bản QPPL, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo “Công ước quốc tế về hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa và vấn đề nội luật hóa – các nội dung cần lưu ý khi kiểm tra văn bản trong lĩnh vực thuế, hải quan. Hội thảo do lãnh đạo Cục Kiểm tra văn bản QPPL và Đại diện dự án Jica đồng chủ trì.
Khi thương mại quốc tế ra đời, các hoạt động giao lưu thương mại hàng hóa dẫn đến nhu cầu cần sử dụng danh mục nhằm xác định tên hàng và cơ cấu phân loại các mặt hàng. Ban đầu, mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ đều có hệ thống phân loại riêng. Tuy nhiên việc áp dụng các hệ thống phân loại hàng hóa khác nhau của mỗi quốc gia dẫn đến kéo dài thời gian, phát sinh chi phí. Để giải quyết vấn đề này và để tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế, Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) đã xây dựng một hệ thống phân loại chung làm cầu nối và hài hòa các hệ thống phân loại hàng hóa khác nhau, hài hòa tên gọi cho hàng hóa, mã hóa hàng hóa bằng các con số, chuẩn hóa đơn vị định lượng đối với các nước và được gọi là Hệ thống Hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa.
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO ngày 11/01/2007. Trong lộ trình tham gia cam kết, Việt Nam cam kết thực hiện Công ước hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa và vấn đề nội luật hóa (HS). Thực tế chúng ta đã tham gia công ước HS từ 1998 và nó có hiệu lực vào ngày 1/1/2000, tuy nhiên cho đến nay, sau 2 lần sửa đổi bổ sung công ước vào năm 2002 và gấn nhất là năm 2007 việc áp dụng công ước ở Việt Nam vẫn còn nhiều điểm bất cập và cần phải có những nghiên cứu để vận dụng công ước này hiệu quả ở Việt Nam.

Theo ý kiến của Cục kiểm tra VBQPPL, quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản tại Bộ Tư pháp, vướng mắc, khó khăn và phản ánh của doanh nghiệp thường không xuất phát từ việc kê khai mã HS của hàng hóa, mà đến từ việc áp dụng mức thuế suất đối với mặt hàng. Tại Việt Nam cũng như tại các quốc gia trên thế giới, chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thường xuyên thay đổi, đồng thời nhà nước cũng có chính sách ưu đã thuế đối với các loại mặt hàng trong từng thời kỳ khác nhau. Do đó, trên cơ sở phân loại hàng hóa xác định mã HS, người kê khai cũng như cơ quan hải quan, cơ quan thuế căn cứ vào đó nhằm xác định mức thuế suất thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu phải nộp đối với các lô hàng. Trong khi đó, hiện nay có nhiều loại hàng hóa mang tính “lưỡng tính”, tức là có các quan điểm phân loại mã HS khác nhau. Vì vậy, trên thực tế đã dẫn đến nhiều trường hợp cùng một loại hàng hóa nhưng người khai hải quan và cơ quan hải quan lại có cách hiểu khác nhau về việc phân loại mã hàng hóa, kéo theo việc xác định thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu khác nhau.
Yêu cầu sắp tới đặt ra là cần rà soát pháp lý các cam kết của Công ước HS và nghị định thư AHTN (danh mục Thuế quan hài hòa Asean) với pháp luật trong nước để làm cơ sở hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước. Yêu cầu tiếp theo cần tăng cường công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện những quy định mâu thuẫn, chồng chéo của pháp luật, cũng như các quy định của pháp luật không phù hợp với công ước HS và Nghị định thư AHTN để kiến nghị sửa đổi pháp luật thực hiện ĐƯQT có liên quan và rà soát đối chiếu với ĐƯQT khi xây dựng, sửa đổi văn bản pháp luật.

Tóm lại, để đảm bảo tính chính xác, kịp thời khi xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nội luật hóa cam kết quốc tế thì công tác kiểm tra VBQPPL cũng cần từng bước kiểm soát, nâng cao chất lượng xây dựng văn bản QPPL, tạo cơ sở để thống nhất về cơ chế, chính sách, góp phần củng cố, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước, tạo môi trường và hành lang pháp lý ổn định, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội.
Đào Hồng Minh