Ngày 12/4/2021, Bộ Tư pháp đã tổ chức cuộc họp với đại diện các bộ, cơ quan ngang bộ, đại diện Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ, Vụ pháp luật, Văn phòng Quốc hội để trao đổi, thảo luận về việc rà soát, xác định nội dung giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương quy định chi tiết Luật Phòng, chống ma túy được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 11 và đề xuất danh mục văn bản để quy định chi tiết. Tham dự cuộc họp có đại diện Vụ Pháp chế của các bộ, cơ quan ngang bộ và đơn vị chủ trì soạn thảo Luật Phòng, chống ma túy. Về phía Bộ Tư pháp có đại diện Vụ Pháp luật hình sự hành chính, Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật.
Tại cuộc họp, đại diện các bộ tập trung trao đổi, thảo luận một số nội dung sau đây:
Thứ nhất, về số lượng nghị định quy định chi tiết Luật Phòng, chống ma túy để bảo đảm yêu cầu hạn chế số lượng văn bản quy định chi tiết.
Thứ hai, về thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết Điều 47, Bộ Tư pháp nhận thấy, Điều này quy định về trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc hướng dẫn việc thành lập, giải thể và tổ chức hoạt động của cơ sở cai nghiện ma túy công lập. Do vậy, cần xác định lại thẩm quyền văn bản là của Chính phủ hay Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Thứ ba, về đề xuất xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 80/2001/NĐ-CP ngày 05/11/2001 của Chính phủ hướng dẫn việc kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy ở trong nước, Nghị định số 58/2003/NĐ-CP ngày 29/5/2003 của Chính phủ quy định về kiểm soát nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển quá cảnh lãnh thổ Việt Nam chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần (để quy định chi tiết khoản 2 Điều 13, khoản 2 Điều 14, khoản 3 Điều 17 và lồng ghép 02 nội dung thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ là Điều 16 và Điều 18).
Về vấn đề này, Bộ Tư pháp cho rằng, danh mục phân công cơ quan chủ trì soạn thảo VBQĐCT chỉ bao gồm các nội dung giao QĐCT, đối với các nội dung thuộc thẩm quyền ban hành thì đề xuất không đưa vào trong danh mục. Trong trường hợp, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất do cùng quy định về một vấn đề thì có thể quy định cả nội dung giao QĐCT và biện pháp thi hành nhưng phải tuân thủ đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ tư, về đề xuất xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 45/2009/NĐ-CP ngày 13/05/2009 của Chính phủ hướng dẫn việc nhập khẩu mẫu, lấy mẫu, quản lý sử dụng mẫu các chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần vì mục đích quốc phòng, an ninh (quy định chi tiết Điều 19), Bộ Tư pháp thấy rằng, đây là nội dung Chính phủ ban hành theo thẩm quyền, do vậy Bộ Công an chủ động xây dựng, trình Chính phủ ban hành nghị định để triển khai thi hành Luật.
Thứ năm, về đề xuất ban hành thông tư hướng dẫn lập danh sách người sử dụng trái phép, người nghiện, người quản lý sau cai nghiện (quy định chi tiết khoản 5 Điều 46), Bộ Tư pháp cho rằng, đây là nội dung thuộc thẩm quyền quy định của Bộ trưởng Bộ Công an, do vậy, không đưa vào Danh mục.
Thứ sáu, về đề xuất Bộ Y tế ban hành Thông tư quy định tiêu chuẩn và quy trình xác định tình trạng nghiện (khoản 7 Điều 27).
Thứ bảy, về nội dung giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội QĐCT: “Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.
Thứ tám, để đảm bảo nghị định được ban hành và có hiệu lực đồng thời với Luật (ngày 01/01/2022), Bộ Tư pháp đề nghị thời gian trình Chính phủ phải trước ngày 15/10/2021, thay vì đề nghị của Bộ Công an là ngày 15/11/2021.
Trên cơ sở kết quả trao đổi, thảo luận tại cuộc họp, Vụ VĐCXDPL đề nghị Bộ Công an phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội khẩn trương rà soát, lập danh mục và gửi về Bộ Tư pháp trước ngày 15/4/2021 để tổng hợp, xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Phạm Thị Ninh, Vụ VĐCXDPL